REFERENCES/TÀI LIỆU THAM KHẢO Archives - Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K https://hmm88i.com/references/ Hm88 com vn tỷ lệ kèo World Cup 2026 Thu, 21 Aug 2025 09:28:12 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9 https://hmm88i.com/hm88-32.png REFERENCES/TÀI LIỆU THAM KHẢO Archives - Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K https://hmm88i.com/references/ 32 32 Công văn số : 2598/QĐ-BYT Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ngày 18 tháng 8 năm 2025 Về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” https://hmm88i.com/cong-van-so-2598-qd-byt-ve-viec-ban-hanh-tai-lieu-chuyen-mon-huong-dan-quy-trinh-ky-thuat-ve-dinh-duong-lam-sang/ https://hmm88i.com/cong-van-so-2598-qd-byt-ve-viec-ban-hanh-tai-lieu-chuyen-mon-huong-dan-quy-trinh-ky-thuat-ve-dinh-duong-lam-sang/#respond Thu, 21 Aug 2025 03:35:31 +0000 https://hmm88i.com/?p=27456 BỘ Y TẾ Số: 2598/QĐ-BYT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc  Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2025 Hm88 link nhà cái  Về việc ban hành tài liệu chuyên môn  “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ […]

The post Công văn số : 2598/QĐ-BYT Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ngày 18 tháng 8 năm 2025 Về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
BỘ Y TẾ

Số: 2598/QĐ-BYT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2025

Hm88 link nhà cái 

Về việc ban hành tài liệu chuyên môn 

“Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở”

BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

Căn cứ Luật HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á năm 2023;

Căn cứ Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K số 42/2025/NĐ-CP ngày 27/02/2025 của HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á quy  định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k;

Căn cứ Chào mừng đến với Mh88 số 23/2024/TT-BYT ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Bộ trưởng Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ban hành danh mục kỹ thuật trong HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á;

Xét Biên bản họp Hội đồng chuyên môn nghiệm thu “Hướng dẫn quy trình  kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” ngày 25/07/2025;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k. 

Hm88 link nhà cái:

Điều 1. Ban hành kèm theo Hm88 link đăng nhập này tài liệu chuyên môn “Hướng  dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở”, gồm 36 quy trình kỹ thuật.

Điều 2. Tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” được áp dụng tại các cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á từ ngày 01 tháng 07 năm 2026.

Điều 3. Các ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Quản lý Khám,  Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ, Cục trưởng và Vụ trưởng các Cục, Vụ thuộc Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k, Giám đốc các  bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k, Giám đốc Hm88.com vn lì xì hội viên mới các tỉnh,  thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng Y tế các Bộ, Ngành và Thủ trưởng  các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Hm88 link đăng nhập này./.

Nơi nhận: 

– Như Điều 3; 

– Bộ trưởng (để báo cáo); 

– Các Thứ trưởng; 

– BHXHVN

– Bộ Tài chính; 

– Cổng Thông tin điện tử Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k; 

– Website Cục KCB; 

– Tổng hội Y học Việt Nam và các Hội Y khoa;

– Lưu VT, KCB. 

KT. BỘ TRƯỞNG 

THỨ TRƯỞNG 
 

 
Trần Văn Thuấn

 

 

BỘ Y TẾ 

HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH KỸ THUẬT VỀ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG

(Ban hành kèm theo Hm88 link đăng nhập số 2598/QĐ-BYT ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Bộ trưởng Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k) 

Hà Nội, năm 2025

Chỉ đạo biên soạn, thẩm định 

GS.TS.BS. Trần Văn Thuấn Thứ trưởng Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k
TS.BS. Hà Anh Đức Cục trưởng Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ
PGS.TS. BS. Lương Ngọc Khuê Nguyên Cục trưởng Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ

 

Chủ biên 

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Lâm Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng
TS.BS. Vương Ánh Dương Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ

Tham gia biên soạn, thẩm định 

TS.BS. Lưu Ngân Tâm Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy
TS.BS. Chu Thị Tuyết Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Hữu Nghị
PGS.TS.BS. Nguyễn Thùy Linh Trưởng khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Đại  học Y Hà Nội
TS.BS. Lưu Thị Mỹ Thục Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương
TS.BS. Nghiêm Nguyệt Thu Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh viện  Bạch Mai
BSCKII. Nguyễn Thị Thế Thanh Phó Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh  viện Bạch Mai
ThS.BS. Trần Việt Tiến Trung tâm Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở- Bệnh viện Bạch Mai
TS.BS. Nguyễn Thị Thuý Hồng Phó Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương
ThS.CNDD. Lê Đức Dũng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương
ThS.BS. Bùi Thị Trà Vi Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Đại học Y  Hà Nội
ThS.BS. Lê Mai Trà Mi Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại  học Y Hà Nội
ThS.BS. Vũ Ngọc Hà Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại  học Y Hà Nội
GS.TS.BS. Lê Thị Hương Phụ trách khoa Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh viện K
TS. Hoàng Việt Bách Phó Trưởng khoa Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh viện K
ThS.BS. Nguyễn Thị Thanh Hòa Khoa Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh viện K
ThS.BS. Trịnh Thị Thủy Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Hữu Nghị
BS. Hà Phương Thùy Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy
ThS. Hà Thanh Sơn Phòng Điều dưỡng- Dinh dưỡng – KSNK, Cục Quản  lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ
PGS.TS.BS. Trương Tuyết Mai Phó Viện trưởng, Viện Dinh dưỡng
BSCKII. Trần Thị Khánh Ngọc Phó Giám đốc, Bệnh viện Đà Nẵng
PGS.TS.BS. Nguyễn Thanh Hà Phó Hiệu trưởng, Trường Đại học Y tế Công cộng
PGS TS BS. Lâm Vĩnh Niên Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Tiết chế, Bệnh viện Đại  học Y-Dược, Tp.Hồ Chí Minh
BSCKII. Đặng Biên Cương Chủ nhiệm khoa Khoa Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Bệnh  viện Trung ương Quân đội 108
ThS.BS. Nguyễn Trung Huy Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa TW Huế
TS.BS. Phạm Thị Lan Anh Trưởng Bộ môn Dinh dưỡng, Trường Đại học Y Dược  Tp. Hồ Chí Minh
PGS.TS.BS. Nguyễn Quang Dũng Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Phổi Trung ương
BSCKI. Nguyễn Thị Yêm Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Phạm Ngọc  Thạch, Tp. Hồ Chí Minh
TS.BS. Phạm Đức Minh Chủ nhiệm Bộ môn – Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện  Quân y 103, Học viện Quân y
TS.BSCKII. Nguyễn Thị Thu  Hậu Trưởng khoa Dinh dưỡng, bệnh viện Nhi đồng 2, Tp.HCM
ThS.BS. Trần Châu Quyên Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội
TS.BS. Hoàng Thị Bạch Yến Phụ trách Khoa dinh dưỡng, Bệnh viện Đại học Y dược Huế
BSCKII. Nguyễn Hải Yến Trưởng Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Trung  ương Thái Nguyên
ThS.BS. Nguyễn Đình Phú Phó Chủ nhiệm khoa Khoa Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở,  Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
TS. Lê Thị Hương Giang Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 198, Bộ Công an
TS.BS. Vũ Thị Thanh Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Tâm Anh Hà Nội

Thư ký 

ThS.BS. Trương Lê Vân Ngọc Trưởng phòng Nghiệp vụ – Bảo vệ sức khoẻ cán bộ,  Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ
ThS. Hà Thanh Sơn Phòng Điều dưỡng-Dinh Dưỡng- KSNK, Cục QLKCB
ThS. Hà Thị Kim Phượng Phòng Điều dưỡng-Dinh Dưỡng- KSNK, Cục QLKCB
ĐDCKI. Trương Thị Thu Hương Phòng Điều dưỡng-Dinh Dưỡng- KSNK, Cục QLKCB
BS. Nguyễn Thị Dung Phòng Phục hồi chức năng và giám định, Cục QLKCB
ThS. Nguyễn Hồng Nhung Phòng Điều dưỡng-Dinh Dưỡng- KSNK, Cục QLKCB
ThS. Dương Thị Phượng Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại  học Y Hà Nội
ThS. Phạm Thị Tuyết Chinh Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại  học Y Hà Nội
ThS. Tạ Thanh Nga Khoa Dinh dưỡng & Tiết chế, Bệnh viện Trường Đại  học Y Hà Nội
ThS. Nguyễn Thị Xuân Anh Viện Đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý ngành y tế – Trường Đại học Y tế công cộng

 

 

LỜI NÓI ĐẦU 

Theo Hippocrates, “Hãy để thức ăn là thuốc của bạn, và thuốc là thức ăn của bạn”, Trong  Y học, dù Đông hay Tây cũng đều đề cập đến chế độ ăn uống cung cấp dinh dưỡng, tạo  nguồn năng lượng giúp duy trì sự sống, hoạt động và sự tăng trưởng cho cơ thể, qua đó  góp phần phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh. Người bệnh suy dinh dưỡng khi điều trị tại bệnh viện có liên quan tới chậm lành vết thương, suy giảm miễn dịch, tăng chi phí  điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tái nhập viện và tỷ lệ tử vong. Trong điều trị bệnh, sự hấp thu thuốc phụ thuộc vào thời gian rỗng của dạ dày, do đó, người bệnh cần  căn cứ thuốc ít tan hay lâu tan mà uống lúc đói hay uống thuốc sau ăn. Bên cạnh đó,  thức ăn có thể làm thay đổi chuyển hóa và thải trừ thuốc. Tuy nhiên, việc sử dụng chế độ dinh dưỡng như thế nào để phù hợp với việc tiêu hao năng lượng của cơ thể rất quan  trọng, đặc biệt là những người bệnh đang nằm điều trị tại bệnh viện và nó trở thành  phương tiện góp phần tích cực vào việc điều trị.

Dinh dưỡng trong bệnh viện là một quá trình bao gồm các bước: Sàng lọc, khám, đánh  giá, chẩn đoán, chỉ định, xây dựng, can thiệp, chế biến và cung cấp chế độ dinh dưỡng  bệnh lý cho từng người bệnh. Như vậy, mỗi người bệnh cần có chế độ dinh dưỡng khác  nhau tùy thuộc vào tình trạng bệnh và thể trạng của mỗi người.

Nhận rõ tầm quan trọng của dinh dưỡng điều trị trong bệnh viện, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k đã khẳng định  hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện phải gắn với hoạt động HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á và  quy định về chuyên môn hóa dinh dưỡng điều trị trong Hm88a hoàn tiền 99% số 18/2020/TT-BYT  ngày 12/11/2020. Đồng thời, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k cũng ban hành Chào mừng đến với Mh88 23/2024/TT-BYT ngày 18/10/2024 về việc “Ban hành danh mục kỹ thuật trong HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á”, trong  đó có 36 danh mục chuyên môn kỹ thuật của dinh dưỡng để làm cơ sở để xây dựng định  mức kinh tế kỹ thuật. Các cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á căn cứ vào tài liệu hướng dẫn  này và điều kiện cụ thể của đơn vị, xây dựng và ban hành tài liệu Hướng dẫn quy trình  kỹ thuật chuyên môn chương Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở phù hợp để thực hiện tại đơn vị.

Để giúp hoàn thành các Hướng dẫn quy trình kỹ thuật dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k trân trọng cảm ơn, biểu dương và ghi nhận sự nỗ lực tổ chức, cá nhân đã tham gia xây  dựng quy trình kỹ thuật dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Nhi  Trung ương, Bệnh viện Hữu nghị, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện K, Bệnh viện Trường  Đại học Y Hà Nội, Viện Dinh dưỡng, Hội Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và đường tiêu  hoá Việt Nam,…; các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, cử nhân chuyên khoa, chuyên  ngành đã tham gia xây dựng và góp ý cho tài liệu. Để hoàn thành các Hướng dẫn chuyên  môn chương quy trình kỹ thuật dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k cũng ghi nhận sự đóng  góp lớn của Lãnh đạo, Chuyên viên Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ và tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ cho hoạt động xây dựng quy trình này.

Trong quá trình biên soạn, biên tập, in ấn tài liệu, mặc dù Ban Biên soạn đã hết sức cố gắng nhưng tài liệu khó tránh khỏi thiếu sót, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k mong nhận được sự góp ý, phản  hồi của bạn đọc để những lần tái bản sau bộ tài liệu được hoàn chỉnh hơn. Các góp ý xin  gửi về: Cục Quản lý Khám, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k, 138A phố Giảng Võ, phường Giảng  Võ, thành phố Hà Nội.

Trân trọng cảm ơn.

GS.TS. Trần Văn Thuấn
THỨ TRƯỞNG BỘ Y TẾ

 

NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH KỸ THUẬT

1. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật được xây dựng và ban hành theo từng chương, chuyên ngành; bao gồm các quy định về chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, chuẩn bị thực hiện kỹ thuật, đến các bước thực hiện theo trình tự từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thực hiện kỹ thuật.

2. Tài liệu chuyên môn Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở được xây dựng và ban hành cho các kỹ thuật có trong Phụ lục số 02 nhưng không có trong Phụ lục số 01 Chào mừng đến với Mh88 số 23/2024/TT-BYT ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Bộ trưởng Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ban hành danh mục kỹ thuật trong HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á. Tài liệu chuyên môn này được áp dụng tại các cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.

3. Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live về thời gian thực hiện kỹ thuật, nhân lực (chức danh chuyên môn nghề nghiệp, số lượng nhân lực), thuốc, thiết bị y tế… trong Hướng dẫn quy trình kỹ thuật do Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ban hành dựa trên tính phổ biến, thường quy thực hiện tại cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á. Trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến Hm8803 hiện đang mở, tình trạng người bệnh, điều kiện thực tế của cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á, việc triển khai kỹ thuật có thể cần huy động thêm nhân lực chuyên môn, bổ sung thuốc, thiết bị y tế…, tăng thời gian thực hiện kỹ thuật…

4. Chỉ sử dụng các thuốc, thiết bị y tế… được cấp phép lưu hành theo quy định hiện hành.

5. Trong quá trình triển khai áp dụng Hướng dẫn quy trình kỹ thuật, nếu thấy các bất cập hoặc nhu cầu cần sửa đổi, bổ sung, các cơ sở HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á chủ động cập nhật và ban hành Hướng dẫn quy trình kỹ thuật của đơn vị, đồng thời báo cáo, đề xuất Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k (Cục QLKCB) về việc cập nhật để ban hành áp dụng trong cả nước.

TẢI CÔNG VĂN FILE PDF TẠI ĐÂY.

The post Công văn số : 2598/QĐ-BYT Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k ngày 18 tháng 8 năm 2025 Về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật về Dinh dưỡng Hm8803 hiện đang mở” appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cong-van-so-2598-qd-byt-ve-viec-ban-hanh-tai-lieu-chuyen-mon-huong-dan-quy-trinh-ky-thuat-ve-dinh-duong-lam-sang/feed/ 0
Chương 12. Thiếu máu và truyền hồng cầu – Ths. Bs Hồ Hoàng Kim – EDICU – BV Nguyễn Tri Phương https://hmm88i.com/chuong-12-thieu-mau-va-truyen-hong-cau-ths-bs-ho-hoang-kim-edicu-bv-nguyen-tri-phuong/ https://hmm88i.com/chuong-12-thieu-mau-va-truyen-hong-cau-ths-bs-ho-hoang-kim-edicu-bv-nguyen-tri-phuong/#respond Mon, 03 Mar 2025 07:02:02 +0000 https://hmm88i.com/?p=27098 Có tới 50% bệnh nhân ICU được truyền hồng cầu (1) và trong phần lớn các trường hợp (90%), số lần truyền này được sử dụng để tăng nồng độ hemoglobin ở những bệnh nhân không chảy máu (2). Thực hành truyền hồng cầu (RBC) dựa trên nồng độ hemoglobin đặt ra câu hỏi về […]

The post Chương 12. Thiếu máu và truyền hồng cầu – Ths. Bs Hồ Hoàng Kim – EDICU – BV Nguyễn Tri Phương appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Có tới 50% bệnh nhân ICU được truyền hồng cầu (1) và trong phần lớn các trường hợp (90%), số lần truyền này được sử dụng để tăng nồng độ hemoglobin ở những bệnh nhân không chảy máu (2). Thực hành truyền hồng cầu (RBC) dựa trên nồng độ hemoglobin đặt ra câu hỏi về mối tương quan giữa nồng độ hemoglobin trong máu và mức độ oxy hóa mô đầy đủ (vì mục Tiêu của truyền RBC là thúc đẩy oxy hóa mô). Đây là một vấn đề có liên quan vì có những rủi ro đáng kể do truyền RBC và có lo ngại rằng những rủi ro này có thể lớn hơn rủi ro thiếu máu mà chúng vốn nhằm mục đích điều chỉnh (3).

Chương này tập trung vào ảnh hưởng của tình trạng thiếu máu và truyền RBC đối với oxy hóa mô. Chương này bắt đầu bằng cách mô tả nguyên nhân và hậu quả của tình trạng thiếu máu ở những người bệnh nặng, sau đó trình bày các chỉ định, tác động sinh lý và hậu quả bất lợi liên quan đến truyền RBC. Các thực hành hiện tại thiếu cơ sở hợp lý hoặc khoa học được nêu bật để giải quyết nhu cầu sử dụng truyền RBC một cách thận trọng hơn.

THIẾU MÁU TRONG ICU

Thiếu máu gần như là tình trạng phổ biến ở ICU; tức là, tình trạng này xuất hiện khi nhập viện ở hai phần ba bệnh nhân và tỷ lệ mắc tăng lên 97% sau một tuần ở ICU (4). Tuy nhiên, định nghĩa chuẩn về thiếu máu có thể gây ra vấn đề ở bệnh nhân ICU, như được giải thích tiếp theo.

Định nghĩa thiếu máu

BẢNG 12.1 Phạm vi tham chiếu cho các thông số hồng cầu ở người lớn
Hemoglobin (Hb)
Nam: 13.5–18 g/dL
Nữ : 12–16 g/dL*
Thể tích trung bình hồng cầu
Nam: 80–100 x 10–15/L
Nữ: như trên
Hematocrit (Hct)
Nam: 40–54%
Nữ: 38–47%
Số lượng hồng cầu
Nam: 4.6–6.2 x 1012/L
Nữ: 4.2–5.4 x 1012/L
Khối hồng cầu
Nam: 26 mL/kg
Nữ: 24 mL/kg
Số lượng hồng cầu lưới
Nam: 25–75 x 109/L

*Phạm vi bình thường là thấp hơn 1 g/dL sau tam cá nguyệt đầu tiên của thai kỳ. Nguồn: (1) Walker RH (biên tập). Sổ tay kỹ thuật của Hiệp hội Ngân hàng máu Hoa Kỳ. Ấn bản lần thứ 10. Arlington, VA: Hiệp hội Ngân hàng máu Hoa Kỳ, 1990:649–650; (2) Hillman RS, Finch CA. Sổ tay hồng cầu. Ấn bản lần thứ 6. Philadelphia: FA Davis, 1994;46

Thiếu máu được định nghĩa là tình trạng giảm khả năng vận chuyển oxy của máu. Đo lường chính xác nhất khả năng vận chuyển O2 của máu là khối lượng hồng cầu, tức là thể tích của các tế bào hồng cầu lưu thông và được đo bằng hồng cầu gắn crom. Phép đo này thường không được sử dụng trong các điều kiện Hm8803 hiện đang mở; thay vào đó, nồng độ hematocrit (Hct) và hemoglobin được sử dụng làm các phép đo Hm8803 hiện đang mở về khả năng vận chuyển O2. (Phạm vi tham chiếu cho các thông số hồng cầu này được thể hiện trong Bảng 12.1) Định nghĩa Hm8803 hiện đang mở về thiếu máu là nồng độ hemoglobin (Hb) <13 g/dL (Hct <40%) ở nam giới <12 g/dL (Hct <38%) ở nữ giới (4). Vì định nghĩa này dựa trên nồng độ nên nó sẽ bị ảnh hưởng bởi thể tích huyết tương.

Ảnh hưởng của thể tích huyết tương

Ảnh hưởng gây nhiễu của thể tích huyết tương lên phép đo Hm8803 hiện đang mở về khả năng vận chuyển O2 (Hct) được chứng minh trong Hình 12.1. Bảng bên trái cho thấy những thay đổi về tư thế trong Hct ở một nhóm người lớn khỏe mạnh (5). Lưu ý rằng có 4,1% giảm tuyệt đối trong Hct ở tư thế nằm ngửa. Đây là kết quả của việc giảm áp suất thủy tĩnh trong các mao mạch ở chân (do mất hiệu ứng trọng lực), thúc đẩy sự di chuyển của dịch kẽ vào máu và làm tăng thể tích huyết tương (420 mL trong nghiên cứu này). Bảng bên phải cho thấy tác động của truyền bolus dung dịch muối đẳng trương (20 mL/kg), gây ra sự giảm tương tự (4,2%) trong Hct (6). Trong cả hai trường hợp, sự giảm Hct tương đương với sự thay đổi do mất một đơn vị hồng cầu.

HÌNH 12.1 Ảnh hưởng của thể tích huyết tương lên hematocrit (Hct). Bảng bên trái cho thấy sự giảm Hct theo tư thế ở tư thế nằm ngửa, được giải thích trong bài. Bảng bên phải cho thấy sự giảm Hct 90 phút sau khi truyền bolus dung dịch muối đẳng trương ở mức 20 mL/kg. Trong cả hai trường hợp, sự giảm tuyệt đối của Hct tương đương với sự thay đổi do mất một đơn vị máu (500 mL). Từ Tài liệu tham khảo 6 và 7.HÌNH 12.1 Ảnh hưởng của thể tích huyết tương lên hematocrit (Hct). Bảng bên trái cho thấy sự giảm Hct theo tư thế ở tư thế nằm ngửa, được giải thích trong bài. Bảng bên phải cho thấy sự giảm Hct 90 phút sau khi truyền bolus dung dịch muối đẳng trương ở mức 20 mL/kg. Trong cả hai trường hợp, sự giảm tuyệt đối của Hct tương đương với sự thay đổi do mất một đơn vị máu (500 mL). Từ Tài liệu tham khảo 6 và 7.
HÌNH 12.1 Ảnh hưởng của thể tích huyết tương lên hematocrit (Hct). Bảng bên trái cho thấy sự giảm Hct theo tư thế ở tư thế nằm ngửa, được giải thích trong bài. Bảng bên phải cho thấy sự giảm Hct 90 phút sau khi truyền bolus dung dịch muối đẳng trương ở mức 20 mL/kg. Trong cả hai trường hợp, sự giảm tuyệt đối của Hct tương đương với sự thay đổi do mất một đơn vị máu (500 mL). Từ Tài liệu tham khảo 6 và 7.HÌNH 12.1 Ảnh hưởng của thể tích huyết tương lên hematocrit (Hct). Bảng bên trái cho thấy sự giảm Hct theo tư thế ở tư thế nằm ngửa, được giải thích trong bài. Bảng bên phải cho thấy sự giảm Hct 90 phút sau khi truyền bolus dung dịch muối đẳng trương ở mức 20 mL/kg. Trong cả hai trường hợp, sự giảm tuyệt đối của Hct tương đương với sự thay đổi do mất một đơn vị máu (500 mL). Từ Tài liệu tham khảo 6 và 7.

Tăng thể tích huyết tương là phổ biến ở những bệnh nhân bệnh nặng, như đã nhấn mạnh trong Chương 11 (xem Hình 11.3), và điều này có nghĩa là nồng độ Hct và Hb sẽ ước tính quá cao tỷ lệ mắc bệnh mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu máu ở những bệnh nhân ICU. Các nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở đã xác nhận rằng nồng độ Hct và Hb là những biện pháp không đáng tin cậy để đánh giá tình trạng thiếu máu ở những bệnh nhân bệnh nặng (7,8). Thật không may, đây là những biện pháp được sử dụng trong tất cả các nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở đánh giá tình trạng thiếu máu và truyền hồng cầu ở những bệnh nhân bệnh nặng.

Thiếu máu liên quan ICU

Hai tình trạng có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và mức độ nghiêm trọng của bệnh thiếu máu trong thời gian nằm viện tại ICU: tình trạng viêm toàn thân và việc lấy máu nhiều lần để xét nghiệm.

Tình trạng Viêm

Viêm toàn thân đi kèm với tình trạng cô lập sắt trong đại thực bào mô, được cho là do tác động của cytokine, và cũng do giải phóng hepcidin ở gan (9), một peptide nhỏ làm giảm nồng độ sắt trong huyết tương bằng cách thúc đẩy quá trình cô lập sắt trong đại thực bào mô (9). Sắt bị cô lập không thể được chuyển đến các tế bào hồng cầu đang phát triển và điều này dẫn đến tình trạng thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc giống với tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. (Đây là cơ chế tương tự đối với “thiếu máu do bệnh mãn tính”). Bilan sắt trong huyết tương trong tình trạng thiếu máu do viêm bao gồm giảm sắt trong huyết tương, khả năng liên kết sắt toàn phần nồng độ transferrin, có thể không phân biệt được với tình trạng thiếu sắt, nhưng có sự gia tăng nồng độ ferritin trong huyết tương.

FERRITIN TRONG HUYẾT TƯƠNG: Nồng độ ferritin trong huyết tương được sử dụng để đánh giá lượng dự trữ sắt trong mô và do đó có thể phân biệt giữa tình trạng thiếu máu do thiếu sắt (ferritin trong huyết tương <30 μg/L) và tình trạng thiếu máu do viêm (ferritin trong huyết tương >100 μg/L) (9).

Trích máu xét nghiệm

Trung bình 40–70 mL máu được rút ra hàng ngày ở bệnh nhân ICU để thực hiện các xét nghiệm cho khoa cận Hm8803 hiện đang mở (4,10) và lượng máu mất tích lũy có thể lên tới 500 mL (một đơn vị máu toàn phần) sau một tuần.

Thể tích lấy máu tĩnh mạch hàng ngày có thể được giảm bằng cách truyền lại mẫu ban đầu khi lấy máu; tức là, khi máu được rút qua catheter mạch máu để xét nghiệm, dịch hút ban đầu sẽ được loại bỏ để loại bỏ sự can thiệp từ dịch truyền tĩnh mạch trong lòng catheter. Thể tích máu bị loại bỏ thường là khoảng 5 mL cho mỗi lần lấy máu và việc đưa máu này trở lại bệnh nhân có thể làm giảm 50% thể tích lấy máu tĩnh mạch hàng ngày (11).

Sinh lý học của Thiếu máu

Thiếu máu gây ra hai phản ứng giúp duy trì oxy hóa mô: (1) tăng cung lượng tim (kết quả của việc giảm độ nhớt của máu) và (2) tăng lượng O2 chiết xuất từ máu mao mạch.

Độ nhớt của máu

BẢNG 12.2 Mối quan hệ giữa Hematocrit và Độ nhớt máu
Hematocrit (%) Độ nhớt tương đối (nước = 1) Độ nhớt tuyệt đối
0 1.4
10 1.8 1.2
20 2.1 1.5
30 2.8 1.8
40 3.7 2.3
50 4.8 2.9
60 5.8 3.8

Từ Documenta Geigy Scientific Tables. Ấn bản lần thứ 7. Basel: Documenta Geigy, 1966:557–8 Độ nhớt được định nghĩa là sức cản của chất lỏng đối với những thay đổi về tốc độ dòng chảy (12), và cũng được mô tả là “độ nhầy” của chất lỏng (13). Độ nhớt của máu là kết quả của sự liên kết chéo của hồng cầu bởi fibrinogen huyết tương, và yếu tố chính quyết định độ nhớt của toàn bộ máu là nồng độ hồng cầu (hematocrit). Ảnh hưởng của hematocrit đến độ nhớt của máu được thể hiện trong Bảng 12.2. Lưu ý rằng độ nhớt của máu có thể được biểu thị theo giá trị tuyệt đối hoặc tương đối (so với nước). Độ nhớt của huyết tương (hematocrit bằng 0) chỉ cao hơn một chút so với nước, trong khi độ nhớt của toàn bộ máu ở hematocrit bình thường (45%) lớn hơn huyết tương khoảng 3 lần và lớn hơn nước khoảng 4 lần. Do đó, máu thiếu máu chảy dễ dàng hơn nhiều so với máu bình thường.

SỰ CHỐNG LẠI DÒNG CHẢY: Ảnh hưởng của độ nhớt máu đến dòng máu ngoại vi có thể được mô tả bằng phương trình Hagen-Poiseuille được trình bày bên dưới (14), phương trình này cũng được sử dụng trong Chương 1 để mô tả dòng chảy qua catheter mạch máu.

Q = ∆P × (π r4 / 8µL)

Phương trình này nêu rằng dòng chảy (Q) qua mạch máu có liên quan trực tiếp đến độ chênh áp suất dọc theo mạch (∆P) và lũy thừa bậc bốn của bán kính (r) của mạch, và liên quan nghịch
đảo với chiều dài (L) của mạch và độ nhớt (µ) của chất lỏng. Số hạng cuối cùng trong phương trình là nghịch đảo của sức cản (1/R), do đó sức cản dòng chảy có thể được mô tả như sau:

R = 8µL / π r4

Phương trình này chỉ ra rằng sức cản dòng chảy trong tuần hoàn ngoại vi có liên quan trực tiếp đến độ nhớt của máu.
Cung lượng tim

HÌNH 12.2 Ảnh hưởng của pha loãng máu đẳng thể tích tiến triển lên lưu lượng tim ở bệnh nhân bị đa hồng cầu. Từ Tài liệu tham khảo 15.
HÌNH 12.2 Ảnh hưởng của pha loãng máu đẳng thể tích tiến triển lên lưu lượng tim ở bệnh nhân bị đa hồng cầu. Từ Tài liệu tham khảo 15.

Tác động của tình trạng thiếu máu lên độ nhớt của máu là nguyên nhân gây ra sự gia tăng cung lượng tim như thể hiện trong Hình 12.2 (15). Lưu ý rằng sự gia tăng cung lượng tim lớn hơn tỷ lệ thuận với sự giảm hematocrit. Điều này là do máu là chất lỏng phi Newton, có nghĩa là độ nhớt chịu ảnh hưởng của lưu lượng máu; tức là, lưu lượng máu tăng sẽ làm giảm độ nhớt.
(Theo nghĩa mục đích luận, đặc tính này sẽ có lợi trong việc giúp giảm mất máu qua mạch máu bị thủng; tức là, mất máu qua vết thủng sẽ dẫn đến giảm lưu lượng máu tại chỗ, sau đó sẽ “làm đặc” máu và giảm xu hướng mất máu thêm.) Sự gia tăng cung lượng tim giúp duy trì vận chuyển O2 toàn thân khi hematocrit giảm.

Oxi hóa hệ thống
Ảnh hưởng của tình trạng thiếu máu tiến triển đến các biện pháp oxy hóa toàn thân được thể hiện trong Hình 12.3 (16). Các phát hiện chính được giải thích bằng cách sử dụng các mối quan hệ sau đây giữa hấp (tiêu) thụ O2 (VO2), cung cấp O2 (DO2) chiết xuất O2:

VO2 = DO2 × O2 mức chiết xuất

Bảng trên trong Hình 12.3 cho thấy rằng, mặc dù cung lượng tim tăng trong tình trạng thiếu máu, nhưng sự giảm hemoglobin dẫn đến sự giảm tổng thể trong việc cung cấp O2 toàn thân. Tuy nhiên, có sự gia tăng bù trừ trong việc chiết xuất O2 và điều này duy trì sự hấp thụ O2 không đổi (hiển thị ở bảng dưới). Tuy nhiên, khi hematocrit giảm xuống dưới 10%, sự gia tăng chiết xuất O2 không còn có thể bù đắp hoàn toàn cho sự giảm trong việc cung cấp O2 và sau đó sự hấp thụ O2 bắt đầu giảm. Khi điều này xảy ra, mức lactat bắt đầu tăng, cho thấy oxy hóa mô không đủ. Lưu ý rằng việc chiết xuất O2 tối đa là khoảng 50% và đây là ngưỡng cho thấy oxy hóa mô bị suy yếu.

HÌNH 12.3 Ảnh hưởng của thiếu máu đẳng tích tiến triển lên các biện pháp oxy hóa toàn thân ở các loài linh trưởng không phải người. DO2 = cung cấp O2, VO2 = hấp thụ O2. Xem bài để biết giải thích. Dữ liệu từ Tài liệu tham khảo 16.
HÌNH 12.3 Ảnh hưởng của thiếu máu đẳng tích tiến triển lên các biện pháp oxy hóa toàn thân ở các loài linh trưởng không phải người. DO2 = cung cấp O2, VO2 = hấp thụ O2. Xem bài để biết giải thích. Dữ liệu từ Tài liệu tham khảo 16.

Có hai đặc điểm trong Hình 12.3 đáng được nhấn mạnh:
• Thiếu máu không làm suy yếu quá trình oxy hóa mô cho đến khi hematocrit giảm xuống 10% (tương đương với nồng độ Hb là 3 g/dL), cho thấy ngay cả những tình trạng thiếu máu nghiêm trọng nhất cũng được dung nạp (nhờ sự gia tăng bù trừ trong quá trình chiết xuất O2).
Chiết xuất O2 tăng lên 50% đánh dấu điểm mà quá trình oxy hóa mô bị đe dọa và điểm này có thể đóng vai trò là chỉ định truyền RBC. (Sẽ nói thêm về điều này sau)

SỰ DUNG NẠP VỚI THIẾU MÁU NẶNG: Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng, khi thể tích nội mạch được duy trì, hematocrit thấp tới 5 đến 10% (Hb = 1,5 đến 3 g/dL) không ảnh hưởng xấu đến quá trình oxy hóa mô (16–18), ngay cả ở những động vật tỉnh táo hít thở không khí trong phòng (18). Các nghiên cứu trên người về hematocrit hoặc hemoglobin thấp nhất có thể dung nạp chủ yếu liên quan đến bệnh nhân Nhân chứng Giê-hô-va (JW). Trong một nghiên cứu lớn bao gồm 300 bệnh nhân JW sau phẫu thuật, 50% bệnh nhân sống sót với mức Hb là 2–3 g/dL và 75% bệnh nhân sống sót với mức Hb là 3–4 g/dL (19). Một nghiên cứu khác về tình trạng pha loãng máu tiến triển ở người lớn khỏe mạnh cho thấy mức Hb là 5 g/dL không gây hại rõ ràng (20). Do đó, các nghiên cứu hiện có cho thấy mức Hb xuống tới 5,0 là an toàn và từng bệnh nhân có thể dung nạp mức Hb thấp tới 2–3 g/dL!

KÍCH HOẠT TRUYỀN MÁU

Năm 1942, mức hemoglobin (Hb) ≤10 g/dL được khuyến cáo là chỉ định truyền RBC (21), và đây là yếu tố kích hoạt truyền máu tiêu chuẩn trong 60 năm tiếp theo, cho đến khi mối lo ngại về những rủi ro liên quan đến truyền RBC thúc đẩy các nghiên cứu cho thấy rằng kết quả không bị ảnh hưởng xấu nếu mức Hb được phép giảm xuống 7 g/dL (22,23). Đánh giá gần đây về 48 nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở đã xác nhận rằng kết quả tương tự (bao gồm các biến cố tim mạch) khi mức Hb được duy trì ở mức 7–8 g/dL thay vì 9–10 g/dL, và ngưỡng Hb thấp hơn để truyền máu dẫn đến giảm 41% lượng tiêu thụ các sản phẩm RBC (24).
Các Guideline
Có 21 hướng dẫn thực hành Hm8803 hiện đang mở về truyền RBC cho bệnh nhân bệnh nặng không đang chảy máu (để biết khuyến nghị của từng hướng dẫn, hãy xem Tài liệu tham khảo 25) và phần lớn các khuyến nghị nêu rõ như sau:
• Ngưỡng truyền RBC là Hb <7 g/dL đối với bệnh nhân bệnh nặng có huyết động ổn định và không mắc bệnh động mạch vành. Điều này bao gồm bệnh nhân sau phẫu thuật tim và bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng.
• Ngưỡng truyền máu phải là Hb <8 g/dL đối với bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành và bệnh nhân phẫu thuật tim hoặc phẫu thuật chỉnh hình.
Việc tuân thủ các hướng dẫn này còn kém; ví dụ, một cuộc khảo sát gần 5.000 ca truyền RBC cho thấy 60% ca truyền máu không tuân thủ các khuyến nghị của hướng dẫn (26).
Có gì sai?
hai vấn đề với việc sử dụng nồng độ Hb làm yếu tố kích hoạt truyền máu:
• Nồng độ Hb không cung cấp thông tin về mức độ oxy hóa mô đầy đủ và vì mục tiêu của truyền RBC là thúc đẩy oxy hóa mô nên việc truyền máu dựa trên nồng độ Hb được thực hiện mà không có bằng chứng về nhu cầu hoặc lợi ích.
• Giảm nồng độ Hb cấp tính có thể gây ra do tác dụng pha loãng và điều này có thể dẫn đến truyền RBC không phù hợp.

Một số hướng dẫn thực hành Hm8803 hiện đang mở đã khuyến cáo từ bỏ mức Hb làm yếu tố kích hoạt truyền máu và áp dụng các biện pháp sinh lý hơn về oxy hóa mô (27), như các biện pháp được mô tả tiếp theo (27).
Sự chiết xuất oxi
Như đã mô tả trước đó (và thể hiện trong Hình 12.3), tình trạng thiếu máu gây ra sự gia tăng bù trừ trong việc chiết xuất O2, giúp duy trì tốc độ hấp thụ O2 không đổi vào các mô. Tuy nhiên, việc chiết xuất O2 đạt mức tối đa khoảng 50% và sau điểm này, việc giảm thêm Hb sẽ dẫn đến việc giảm hấp thụ O2, đây là dấu hiệu của tình trạng oxy hóa mô bị suy giảm. Do đó, việc chiết xuất O2 ở mức 50% có thể được sử dụng làm yếu tố kích hoạt truyền máu vì nó xác định ngưỡng oxy hóa mô bị suy giảm (28). Việc chiết xuất O2 gần tương đương với sự khác biệt giữa độ bão hòa O2 động mạch và tĩnh mạch trung tâm (SaO2–ScvO2) và điều này có thể được theo dõi liên tục bằng cách sử dụng phương pháp đo oxy xung (đối với SaO2) và catheter “đo oxy” tĩnh mạch trung tâm (đối với ScvO2).
Khi SaO2 gần 100%, ScvO2 có thể được sử dụng riêng lẻ làm yếu tố kích hoạt truyền máu; ví dụ, ScvO2 <70% đã được đề xuất như một tác nhân kích hoạt truyền máu (29).
Thật không may, mặc dù có những lợi thế về mặt sinh lý của các phương pháp tiếp cận này, chúng vẫn nhận được ít sự chú ý.

TRUYỀN KHỐI HỒNG CẦU

Máu toàn phần chỉ được lưu trữ theo yêu cầu và được tách thành các thành phần khác; tức là hồng cầu (RBC), tiểu cầu, huyết tương và kết tủa lạnh. Thực hành này cho phép mỗi đơn vị máu được cho phục vụ nhiều nhu cầu truyền máu.
Các chế phẩm hồng cầu
Các chế phẩm RBC có sẵn để truyền máu được thể hiện trong Bảng 12.3
Túi hồng cầu lắng
Phần hồng cầu của máu cho được đặt trong dung dịch bảo quản và được lưu trữ ở nhiệt độ từ 1 đến 6° C. Các dung dịch bảo quản mới hơn có chứa adenine, giúp duy trì mức ATP trong hồng cầu được lưu trữ và cho phép lưu trữ hồng cầu của người cho trong tối đa 42 ngày (30).
Mỗi đơn vị hồng cầu cô đặc, được gọi là hồng cầu đóng túi (RBC đóng túi ), có hematocrit khoảng 60% và thể tích khoảng 350 mL, bao gồm khoảng 30 – 50 mL huyết tương còn lại và một số lượng đáng kể bạch cầu (30).
Túi hồng cầu được làm giảm bạch cầu
Các tế bào bạch cầu trong hồng cầu đóng túi có thể kích hoạt phản ứng kháng thể ở người nhận sau nhiều lần truyền máu, và đây là nguyên nhân gây ra phản ứng truyền máu không tan máu gây sốt (xem phần sau). Để giảm nguy cơ xảy ra phản ứng này, hồng cầu của người cho được truyền qua các bộ lọc chuyên dụng để loại bỏ hầu hết các tế bào bạch cầu. Điều này được thực hiện thường quy tại nhiều ngân hàng máu, nhưng việc giảm bạch cầu phổ biến vẫn chưa được áp dụng tại Hoa Kỳ. Các túi hồng cầu giảm bạch cầu được khuyến nghị cho những bệnh nhân có phản ứng truyền máu không tan máu gây sốt trước đó (30).

BẢNG 12.3 Các chế phẩm hồng cầu
Chế phẩm Các đặc tính
Túi hồng cầu lắng 1. Mỗi đơn vị có thể tích 350 mL và hematocrit khoảng 60%.
2. Chứa bạch cầu và huyết tương còn lại (15–30 mL mỗi đơn vị)
3. Có thể bảo quản trong 42 ngày với các chất phụ gia thích hợp
Túi hồng cầu lắng ít
bạch cầu
1. Các túi hồng cầu của người cho được truyền qua các bộ lọc
chuyên dụng để loại bỏ hầu hết các tế bào bạch cầu. Điều này làm
giảm nguy cơ phản ứng sốt không tan máu.
2. Chỉ định cho những bệnh nhân có tiền sử phản ứng sốt truyền máu
(không tan máu)
Túi hồng cầu rửa 1. Các túi hồng cầu được rửa bằng nước muối để loại bỏ huyết tương
còn sót lại, giúp giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn.
2. Chỉ định cho những bệnh nhân có tiền sử phản ứng dị ứng liên
quan đến truyền máu và ở những bệnh nhân bị thiếu hụt IgA, những
người có nguy cơ bị phản vệ liên quan đến truyền má

Túi hồng cầu rửa
Có thể rửa hồng cầu của người cho bằng dung dịch muối đẳng trương để loại bỏ huyết tương còn sót lại. Điều này làm giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn do nhạy cảm trước đó với protein huyết tương trong máu của người cho . Các chế phẩm hồng cầu đã rửa được khuyến cáo cho
những bệnh nhân có tiền sử phản ứng quá mẫn với truyền máu và cho những bệnh nhân bị thiếu hụt immunoglobulin A, những người có nguy cơ phản vệ liên quan đến truyền máu cao hơn (30). Rửa bằng nước muối không loại bỏ tác động bạch cầu.
Truyền hồng cầu đóng túi (PRBC)

BẢNG 12.4 Truyền hồng cầu đóng túi theo trọng lực
Thể tích Thời gian truyền
20-G Catheter* 18-G Catheter
1 Unit không pha loãng 350 mL 117 phút 70 phút
1 Unit + 100 mL NS 450 ml 19 12

* G = kích thước gauge. Chiều dài catheter 1,2 inch cho tất cả các lần truyền dịch. Từ Tài liệu tham khảo 31.
Hồng cầu đóng túi (PRBC) có độ nhớt cao (do Hct là 60%) và do đó có tốc độ chảy chậm. Do đó, nước muối thường được thêm vào truyền PRBC để tăng tốc độ chảy và giảm thời gian truyền. Dữ liệu trong Bảng 12.4 cho thấy thời gian truyền cho một đơn vị PRBC qua catheter ngoại vi cỡ 18 và 20, và ảnh hưởng của việc pha loãng với 100 mL nước muối đẳng trương (31). Lưu ý rằng thời gian truyền là gần 2 giờ khi hồng cầu chưa pha loãng được truyền qua catheter cỡ 20, và thời gian truyền được giảm xuống còn gần một giờ với catheter cỡ 18. Cũng lưu ý rằng hồng cầu truyền nhanh hơn sáu lần khi được pha loãng bằng nước muối. Thời gian truyền được khuyến cáo thường là 2 giờ cho mỗi đơn vị hồng cầu đóng túi đối với những bệnh nhân ổn định về mặt huyết động (30), do đó, việc pha loãng nước muối có thể không cần thiết khi truyền PRBC để điều chỉnh tình trạng thiếu máu.
Các bộ lộc máu
Bộ lọc máu tiêu chuẩn (kích thước lỗ từ 170 đến 260 micron) là bắt buộc đối với việc truyền tất cả các sản phẩm máu (30). Các bộ lọc này giữ lại cục máu đông và các mảnh vụn khác, nhưng chúng không giữ lại bạch cầu và không hiệu quả trong việc giảm bạch cầu (30). Các bộ lọc này có thể trở thành vật cản dòng chảy khi chúng thu thập các mảnh vụn bị mắc kẹt và tốc độ truyền chậm là dấu hiệu cần thay bộ lọc.
Tác động lên oxy hóa toàn thân
Ở người lớn có kích thước trung bình, một đơn vị hồng cầu túi dự kiến sẽ làm tăng nồng độ hemoglobin và hematocrit lần lượt là 1 g/dL và 3% (30). Tác động của truyền RBC lên các biện pháp oxy hóa toàn thân được thể hiện ở Hình 12.4. Dữ liệu trong hình này lấy từ một nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật bị thiếu máu đẳng thể tích nghiêm trọng (Hb <7 g/dL) được truyền 1 – 2 đơn vị hồng cầu đóng túi để nâng Hb lên trên 7 g/dL. Truyền RBC làm tăng nồng độ Hb trung bình từ 6,4 lên 8 g/dL (tăng 25%) và có sự gia tăng tương tự trong cung cấp O2 (DO2). Tuy nhiên, lượng O2 hấp thụ toàn thân (VO2) không thay đổi. VO2 không đổi khi DO2 tăng cho thấy việc chiết xuất O2 đã giảm do truyền RBC, như dự đoán của Phương trình 12.3. Những thay đổi trong quá trình chiết xuất DO2 và O2 này ngược lại với những thay đổi do thiếu máu gây ra, như thể hiện trong Hình 12.3.

HÌNH 12.4 Hiệu ứng của truyền RBC (1–2 đơn vị RBC đóng túi ) để điều chỉnh tình trạng thiếu máu nặng (Hb < 7g/dL) đối với việc cung cấp oxy toàn thân (DO2) và hấp thụ oxy (VO2) ở 11 bệnh nhân sau phẫu thuật. Cácđiểm dữ liệu biểu thị giá trị trung bình cho từng thông số. Các số trong ngoặc đơn biểu thị nồng độ hemoglobin trung bình trước và sau khi truyền.
HÌNH 12.4 Hiệu ứng của truyền RBC (1–2 đơn vị RBC đóng túi ) để điều chỉnh tình trạng thiếu máu nặng (Hb < 7g/dL) đối với việc cung cấp oxy toàn thân (DO2) và hấp thụ oxy (VO2) ở 11 bệnh nhân sau phẫu thuật. Các
điểm dữ liệu biểu thị giá trị trung bình cho từng thông số. Các số trong ngoặc đơn biểu thị nồng độ hemoglobin trung bình trước và sau khi truyền.

Không cải thiện oxy hóa mô
Việc không có tác dụng lên VO2 trong Hình 12.4 cho thấy truyền RBC không làm tăng oxy hóa mô. Điều này đã được xác nhận trong một số nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở (32–35) và việc lưu trữ RBC trong thời gian dài thực sự có thể làm suy yếu oxy hóa mô sau khi truyền (36). Các nghiên cứu này đã thúc đẩy tuyên bố sau trong hướng dẫn thực hành Hm8803 hiện đang mở về truyền hồng cầu (27):
“Truyền RBC không nên được coi là phương pháp tuyệt đối để cải thiện oxy hóa mô ở những bệnh nhân bệnh nặng”.

BÌNH LUẬN: Việc truyền RBC không thể tăng cường oxy hóa mô đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về việc truyền RBC chỉ để tăng mức Hb. Mối quan tâm này đặc biệt có liên quan khi xét đến nhiều rủi ro liên quan đến truyền RBC, được mô tả trong phần tiếp theo.

CÁC NGUY CƠ CỦA TRUYỀN MÁU

Phổ các biến cố bất lợi liên quan đến truyền RBC được thể hiện trong Bảng 12.5, cùng với rủi ro của từng biến cố trên mỗi đơn vị RBC được truyền (37–42). Lưu ý rằng lỗi truyền máu thường xuyên hơn nhiều so với việc truyền các tác nhân truyền nhiễm đáng sợ. Sau đây là mô tả ngắn gọn về các phản ứng truyền máu chính.

BẢNG 12.5 Các biến cố bất lợi liên quan truyền RBC (trên mỗi đơn vị truyền máu)
Liên quan đến miễn dịch Các vấn đề khác
Sốt không tan máu (1:60)
Phản ứng quá mẫn:
• Mày đay (1:100)
• Phản vệ (1:1.000)
• Sốc phản vệ (1:50.000)
Tổn thương phổi cấp tính (1:12.000)
Nhiễm trùng bệnh viện (?)
Tan máu cấp tính (1:35.000)
Tan máu tử vong (1:1,9 triệu)
Quá tải tuần hoàn (1:100)†
Nhiễm trùng lây truyền:
• Vi khuẩn (1:500.000)
• Virus viêm gan B (1:1,2 triệu)
• Virus viêm gan C (1:1,5 triệu)
• HIV (1:1,5 triệu)
Lỗi truyền máu:
• Truyền nhầm người (1:15.000)
• Truyền máu không tương thích (1:33.000)

Các phản ứng tan máu cấp
Phản ứng tan máu cấp tính xảy ra do truyền hồng cầu không tương thích nhóm máu ABO với người nhận. Khi điều này xảy ra, kháng thể trong máu người nhận sẽ liên kết với kháng nguyên nhóm máu ABO trên hồng cầu của người cho và quá trình tan máu sau đó của hồng cầu của người cho sẽ kích hoạt phản ứng viêm toàn thân có thể kèm theo hạ huyết áp và suy đa cơ quan. Những phản ứng này thường là kết quả của lỗi của con người (43).
Đặc điểm Hm8803 hiện đang mở
Đặc điểm của phản ứng tan máu cấp tính là sốt đột ngột, khó thở, đau ngực, đau lưng dưới và hạ huyết áp trong vòng vài phút sau khi bắt đầu truyền máu. Phản ứng nghiêm trọng kèm theo bệnh lý đông máu tiêu thụ và rối loạn chức năng đa cơ quan tiến triển.
Quản lý điều trị
• Nếu nghi ngờ có phản ứng tan máu, hãy NGỪNG truyền máu ngay lập tức và xác minh rằng đã truyền đúng máu cho đúng bệnh nhân. Điều bắt buộc là phải ngừng truyền máu càng sớm càng tốt vì mức độ nghiêm trọng của phản ứng tan máu phụ thuộc vào thể tích máu được truyền (39).
• Nếu máu của người cho phù hợp chính xác với bệnh nhân, thì phản ứng tan máu cấp tính không có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, ngân hàng máu phải được thông báo và họ sẽ yêu cầu mẫu máu để thực hiện xét nghiệm hemoglobin tự do trong huyết tương (để tìm bằng chứng về tan máu nội mạch) và xét nghiệm Coomb trực tiếp (để tìm bằng chứng về kháng thể anti-ABO).
• Nếu phản ứng tan máu cấp tính được xác nhận, việc xử trí là chăm sóc hỗ trợ chung, với hỗ trợ thể tích và thuốc co mạch để nâng huyết áp, và hỗ trợ thở máy nếu suy hô hấp. Những phản ứng này hiếm khi gây tử vong (xem Bảng 12.5).
Các phản ứng sốt không do tan máu
Phản ứng sốt không liên quan đến tan máu là phản ứng có hại phổ biến nhất đối với truyền RBC (xem Bảng 12.5). Các phản ứng này được đặc trưng bởi nhiệt độ tăng >1 °C (1,8 °F) xảy ra trong hoặc lên đến 6 giờ sau khi truyền máu và không có nguyên nhân rõ ràng nào khác (ví dụ: phản ứng tan máu cấp tính) (40). Thủ phạm là sự hiện diện của kháng thể kháng bạch cầu trong máu người nhận phản ứng với các kháng nguyên trên bạch cầu trong máu của người cho . Điều này kích hoạt giải phóng các chất gây sốt nội sinh từ các tế bào thực bào, đây là nguồn gây sốt. Phản ứng này thường xảy ra ở những bệnh nhân đã được truyền máu trước đó và ở những phụ nữ đã sinh nhiều con. Truyền RBC đã được làm giảm bạch cầu làm giảm, nhưng không loại bỏ, nguy cơ xảy ra phản ứng này (40).
Đặc điểm Hm8803 hiện đang mở
Sốt thường không xuất hiện trong giờ đầu tiên sau khi bắt đầu truyền máu (không giống như sốt liên quan đến phản ứng tan máu cấp tính), nhưng có thể kèm theo rét run và ớn lạnh.
Quản lý điều trị
• Cách tiếp cận ban đầu đối với sốt liên quan đến truyền máu giống như đã mô tả đối với phản ứng truyền máu tan máu, mặc dù sốt có thể không xuất hiện cho đến khi truyền xong. Chẩn đoán được xác nhận bằng cách loại trừ sự hiện diện của tan máu bằng các xét nghiệm đã mô tả trước đó.
• Ngân hàng máu sẽ thực hiện nhuộm Gram trên máu của người cho và có thể yêu cầu cấy máu từ người nhận.
• Hơn 75% số cơn sốt không tan máu sẽ không tái phát trong các lần truyền máu tiếp theo (44). Do đó, không cần biện pháp phòng ngừa đặc biệt nào cho các lần truyền máu trong tương lai. Nếu xảy ra phản ứng sốt thứ hai, nên sử dụng hồng cầu túi được làm giảm giảm bạch cầu cho tất cả các lần truyền máu tiếp theo.
Phản ứng quá mẫn
Phản ứng quá mẫn là kết quả của quá trình nhạy cảm với protein huyết tương trong máu của người cho từ những lần truyền máu trước đó. Bệnh nhân thiếu IgA dễ bị phản ứng quá mẫn khi truyền máu và không cần phải tiếp xúc trước với các sản phẩm huyết tương. Phản ứng quá mẫn phổ biến nhất là mày đay, được báo cáo ở một trong mỗi 100 đơn vị được truyền (41). Các phản ứng phản vệ nghiêm trọng hơn (ví dụ như co thắt phế quản) ít phổ biến hơn nhiều và sốc phản vệ rất hiếm gặp.
Đặc điểm Hm8803 hiện đang mở

Biểu hiện thường gặp là mày đay nhẹ xuất hiện trong quá trình truyền máu và không kèm theo sốt. Khó thở và thở khò khè đột ngột trong quá trình truyền máu có thể là dấu hiệu của phản ứng phản vệ và hạ huyết áp do sốc phản vệ có thể bị nhầm là phản ứng tan máu cấp tính.
Quản lý điều trị
• Mày đay nhẹ không sốt không cần phải ngừng truyền máu. Tuy nhiên, phương pháp phổ biến là tạm thời dừng truyền máu và dùng thuốc kháng histamin để giảm triệu
chứng (ví dụ: diphenhydramine, 25–50 mg uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch).
• Các phản ứng phản vệ nghiêm trọng nên được xử trí như mô tả trong Chương 17. Cần ngừng truyền máu ngay lập tức nếu nghi ngờ bị phản vệ nghiêm trọng.
• Đối với những bệnh nhân bị phản ứng dị ứng, nên sử dụng hồng cầu đã rửa cho tất cả các lần truyền máu trong tương lai và đối với những bệnh nhân bị phản ứng phản vệ, nên tránh truyền máu trong tương lai trừ khi thực sự cần thiết.
• Những bệnh nhân bị phản ứng quá mẫn nên được xét nghiệm xem có thiếu hụt IgA tiềm ẩn hay không.
Tổn thương phổi cấp
Tình trạng được gọi là tổn thương phổi cấp tính liên quan đến truyền máu (TRALI) là tổn thương phổi do viêm giống với hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) và liên quan đến truyền RBC và tiểu cầu. Tình trạng này không phổ biến (một trường hợp trên 12.000 lần truyền RBC), nhưng được coi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến truyền máu và có tỷ lệ tử vong lên tới 50% (45).

HÌNH 12.5 Phim chụp ngực di động từ bệnh nhân bị tổn thương phổi cấp tính liên quan đến truyền máu. Lưu ý mô hình thâm nhiễm đồng nhất trong phổi, đây là đặc điểm của tổn thương phổi do viêm.
HÌNH 12.5 Phim chụp ngực di động từ bệnh nhân bị tổn thương phổi cấp tính liên quan đến truyền máu. Lưu ý mô hình thâm nhiễm đồng nhất trong phổi, đây là đặc điểm của tổn thương phổi do viêm.

Trong 80% trường hợp, TRALI là kết quả của kháng thể trong máu của người cho liên kết với các kháng nguyên trên bạch cầu trung tính lưu hành ở người nhận (45). Điều này kích hoạt hoạt hóa bạch cầu trung tính và các bạch cầu trung tính được kích hoạt sẽ bị cô lập trong các mao mạch phổi và di chuyển vào phổi để gây ra tổn thương do viêm. Kháng thể không liên quan đến khoảng 20% các trường hợp, nhưng tác nhân gây bệnh vẫn chưa được xác định.
Đặc điểm Hm8803 hiện đang mở
TRALI biểu hiện bằng suy hô hấp thiếu oxy cấp tính thường xuất hiện trong giờ đầu tiên sau khi bắt đầu truyền máu, nhưng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong 6 giờ đầu tiên sau khi bắt đầu truyền máu (46), Sốt là phổ biến và chụp X-quang ngực cuối cùng có thể trông giống như trong Hình 12.5, với thâm nhiễm trải rộng ở cả hai phổi không thể phân biệt được với ARDS (được mô tả trong Chương 24). Suy hô hấp có thể nghiêm trọng ngay từ đầu và thường phải thở máy.
TRALI có thể khó phân biệt với phù phổi thủy tĩnh trong tình trạng quá tải tuần hoàn liên quan đến truyền máu (được mô tả tiếp theo), có thể xuất hiện trong cùng khung thời gian sau khi bắt đầu truyền máu và thậm chí có thể kèm theo sốt (45). Bằng chứng về tình trạng viêm toàn thân (protein C phản ứng tăng cao) sẽ hỗ trợ chẩn đoán TRALI, cùng với việc không có suy tim hoặc quá tải dịch (45).
Quản lý điều trị
• Nếu không hoàn thành việc truyền máu, cần dừng truyền máu ngay khi có những dấu hiệu đầu tiên của khó thở. Cần thông báo cho ngân hàng máu về tất cả các trường hợp nghi ngờ TRALI. (Có các xét nghiệm kháng thể kháng bạch cầu, nhưng không được sử dụng thường xuyên).
• Việc quản lý TRALI mang tính hỗ trợ và tương tự như việc quản lý ARDS được mô tả trong Chương 24.
• Không có khuyến nghị chắc chắn nào về việc truyền máu trong tương lai ở những bệnh nhân phát triển TRALI. Một số khuyến nghị sử dụng RBC đã rửa để loại bỏ kháng thể khỏi máu của người cho , nhưng hiệu quả của biện pháp này vẫn chưa được biết.
Phù phổi do tăng áp lực thủy tĩnh
Biến chứng phổi phổ biến nhất của truyền hồng cầu là tình trạng quá tải tuần hoàn liên quan đến truyền máu (TACO), có tỷ lệ mắc bệnh được báo cáo là 1% (45,46). Dấu hiệu đặc trưng của tình trạng này là phù phổi thủy tĩnh cấp tính xuất hiện trong 6 giờ đầu sau khi bắt đầu truyền máu. Suy hô hấp thiếu oxy cấp tính do đó thường đòi hỏi phải thở máy và tỷ lệ tử vong được báo cáo là 20% (46).
Nguyên nhân
Không có mối tương quan giữa số lượng đơn vị truyền máu và sự xuất hiện của TACO (46), nhưng tình trạng này xuất hiện thường xuyên hơn ở những bệnh nhân bị suy tim và suy thận từ trước, những người dễ bị quá tải dịch (45,46). Cũng có thể các yếu tố khác ngoài thể tích truyền dịch có tác dụng trong tình trạng này.

Biểu hiện Hm8803 hiện đang mở
Biểu hiện Hm8803 hiện đang mở có thể không phân biệt được với TRALI, với sự khởi phát cấp tính của suy hô hấp thiếu oxy trong 6 giờ đầu sau khi bắt đầu truyền máu và chụp X-quang ngực cho thấy phù phổi. Bệnh nhân sốt ở 30% trường hợp (45) và cần thở máy ở ba phần tư số bệnh nhân (46). Các tình trạng có lợi cho chẩn đoán TACO bao gồm suy tim từ trước, bằng chứng quá tải dịch hoặc suy thận tiềm ẩn.
Quản lý điều trị
• Cần dừng truyền máu nếu không hoàn thành và cần thông báo cho ngân hàng máu.
• Thuốc lợi tiểu quai tĩnh mạch là phù hợp. Nếu không, cần chăm sóc hỗ trợ (ví dụ, thở máy nếu cần), tương tự như cách quản lý TRALI.
• Không có khuyến cáo nào liên quan đến việc truyền máu trong tương lai, mặc dù nên xác định và điều chỉnh cân bằng dịch dương (bằng thuốc lợi tiểu) trước khi truyền máu.
Các nhiễm khuẩn bệnh viện
Tác dụng ức chế miễn dịch của truyền máu trở nên rõ ràng với phát hiện (vào đầu những năm 1970) rằng truyền máu trước khi ghép giúp cải thiện tỷ lệ sống sót của ghép thận (47). Kể từ đó, vô số nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở đã chỉ ra rằng những bệnh nhân được truyền máu có tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện cao hơn (42,48,49). Nguy cơ nhiễm trùng tăng theo thể tích máu được truyền và thời gian lưu trữ máu của người cho (49). Có khả năng những bệnh nhân được truyền máu sẽ bệnh nặng hơn và do đó dễ bị nhiễm trùng hơn, nhưng ít nhất 22 nghiên cứu đã chỉ ra rằng truyền máu là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với nhiễm trùng bệnh viện (49).
Tệ hơn nữa – Thiếu máu hay truyền hồng cầu?
Một đánh giá về 45 nghiên cứu Hm8803 hiện đang mở liên quan đến truyền RBC để điều trị tình trạng thiếu máu ở những bệnh nhân nguy kịch, bao gồm 272.596 bệnh nhân, đã tiết lộ những điều sau (50):
• Trong 42 trong số 45 nghiên cứu, rủi ro của truyền RBC lớn hơn lợi ích và chỉ có một nghiên cứu cho thấy lợi ích của truyền RBC lớn hơn rủi ro.
• Mười tám nghiên cứu đã đánh giá tác động của truyền RBC đối với khả năng sống sót và 17 trong số 18 nghiên cứu cho thấy truyền RBC là một yếu tố rủi ro độc lập dẫn đến tử vong. Không một báo cáo tốt về việc sử dụng truyền RBC để tăng nồng độ hemoglobin. Liệu lợi tiểu có tác dụng tương tự không?

LỜI KẾT

Thể tích máu so với tế bào máu
Thực hành tăng nồng độ hemoglobin ở những bệnh nhân bệnh nặng bắt nguồn từ niềm tin rằng thiếu máu là mối đe dọa đáng kể đối với quá trình oxy hóa mô. Tuy nhiên, có vẻ như ngay cả khi giảm hemoglobin hoặc hematocrit cực độ cũng không làm suy yếu quá trình oxy hóa mô khi thể tích nội mạch được duy trì (cho phép cung lượng tim tăng lên để đáp ứng với tình trạng thiếu máu). Thể tích máu có thể vượt trội hơn hemoglobin và hematocrit trong việc hỗ trợ oxy hóa mô, vì giảm thể tích máu là nguyên nhân gây sốc được công nhận (tình trạng oxy hóa mô bị suy yếu), nhưng thiếu máu thì không.
Tầm quan trọng của thể tích máu thường bị bỏ qua trong các cuộc thảo luận về tình trạng thiếu máu và truyền hồng cầu, ngay cả Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ, với khẩu hiệu phổ biến là máu cứu sống, xứng đáng được nâng cấp chính xác hơn, như thể hiện trong Hình 12.6.

HÌNH 12.6 Một khẩu hiệu phổ biến của Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ ở bên trái và phiên bản đã sửa đổi ở bên phải nhằm công nhận tầm quan trọng của thể tích nội mạch đối với sự sống còn.
HÌNH 12.6 Một khẩu hiệu phổ biến của Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ ở bên trái và phiên bản đã sửa đổi ở bên phải nhằm công nhận tầm quan trọng của thể tích nội mạch đối với sự sống còn.

Tài liệu tham khảo
1. Rygård SL, Holst LB, Perner A. Blood product administration in the critical care and perioperative settings. Crit Care Clin 2018; 34:299–311.
2. Corwin HL, Gettinger A, Pearl R, et al. The CRIT study: anemia and blood transfusion in the critically ill–Current clinical practice in the United States. Crit Care Med 2004; 32:39–52.
3. Shander A, Javidroozi M, Ozawa S, Hare GMT. What is really dangerous: anemia or
transfusion. Br J Anaesth 2011; 51:141–159. Anemia in the ICU
4. Rawal G, Kumar R, Yadav S, Singh A. Anemia in intensive care: A review of current concepts. J Crit Care Med 2016; 2:109–114.
5. Jacob G, Raj SR, Ketch T, et al. Postural pseudoanemia: posture-dependent change in
hematocrit. Mayo Clin Proc 2005; 80:611–614.
6. Stamler K. Effect of crystalloid infusion on hematocrit in nonbleeding patients, with
applications in clinical traumatology. Ann Emerg Med 1989; 18:747–749.
7. Jones JG, Holland BM, Wardrop CAJ. Total circulating red cells versus hematocrit as a primary descriptor of oxygen transport by the blood. Br J Hematol 1990; 76:228–232.
8. Cordts PR, LaMorte WW, Fisher JB, et al. Poor predictive value of hematocrit and
hemodynamic parameters for erythrocyte deficits after extensive elective vascular operations. Surg Gynecol Obstet 1992; 175:243–248.
9. Lasocki S, Longrois D, Montravers P, Beaumont C. Hepcidin and anemia of the critically ill
patient: bench to bedside. Anesthesiology. 2011; 114:688–94.
10. Smoller BR, Kruskall MS. Phlebotomy for diagnostic laboratory tests in adults: Pattern of use and effect on transfusion requirements. N Engl J Med 1986; 314:1233–1235.
11. Silver MJ, Li Y-H, Gragg LA, et al. Reduction of blood loss from diagnostic sampling in
critically ill patients using a bloodconserving arterial line system. Chest 1993; 104:1711–1715.
12. Merrill EW. Rheology of blood. Physiol Rev 1969; 49:863–888.
13. Vogel S. Life in Moving Fluids. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1981: 11–24.

14.Chien S, Usami S, Skalak R. Blood flow in small tubes. In: Renkin EM, Michel CC (eds).
Handbook of Physiology. Section 2: The cardiovascular system. Volume IV. The
microcirculation. Bethesda, MD: American Physiological Society, 1984; 217–249.
15. LeVeen HH, Ahmed N, Mascardo T, et al. Lowering blood viscosity to overcome vascular
resistance. Surg Gynecol Obstet 1980; 150:139–149.
16. Wilkerson DK, Rosen AL, Gould SA, et al. Oxygen extraction ratio: a valid indicator of
myocardial metabolism in anemia. J Surg Res 1987; 42:629–634.
17. Levine E, Rosen A, Sehgal L, et al. Physiologic effects of acute anemia: implications for a reduced transfusion trigger. Transfusion 1990; 30:11–14.
18. Nielsen VG, Baird MS, Brix A, Matalon S. Extreme, progressive isovolemic hemodilution with 5% albumin, PentaLyte, or hextend does not cause hepatic ischemia or histologic injury in rabbits. Anesthesiology 1999; 90:1428–1435.
19. Carson JL, Noveck H, Berlin J, Gould SA. Mortality and morbidity in patients with very low postoperative Hb levels who decline blood transfusion. Transfusion 2002; 42:812–818.
20. Weiskopf RB, Viele M, Feiner J, et al. Human cardiovascular and metabolic response to acute, severe, isovolemic anemia. JAMA 1998; 279:217–221. The Transfusion Trigger
21. Adam RC, Lundy JS. Anesthesia in cases of poor risk: Some suggestions for decreasing the risk. Surg Gynecol Obstet 1942; 74:1011–1101.
22. Hebert PC, Wells G, Blajchman MA, et al. A multicenter, randomized, controlled clinical trial of transfusion requirements in critical care. N Engl J Med 1999; 340:409–417.
23. Holst LB, Haase H, Wetterslev J, et al. Lower versus higher hemoglobin threshold for
transfusion in septic shock. N Engl J Med 2014; 371:1381–1391.
24. Carson JL, Stanworth SJ, Dennis JA, et al. Transfusion thresholds for guiding red blood cell transfusion. Cochrane Database Syst Rev 2021; 12: CD002042
25. Franchini M, Marano G, Mengoli C, et al. Red blood cell transfusion policy: a critical literature review. Blood Transfus 2017; 15:307–317.
26. Soril LJJ, Noseworthy TW, Stelfox HT, et al. A retrospective observational analysis of red blood cell transfusion practices in stable, non-bleeding adult patients admitted to medical-surgical intensive care units. J Intensive Care 2019; 7:19.
27. Napolitano LM, Kurek S, Luchette FA, et al. Clinical practice guideline: Red blood cell
transfusion in adult trauma and critical care. Crit Care Med 2009; 37:3124–3157.
28. Levy PS, Chavez RP, Crystal GJ, et al. Oxygen extraction ratio: a valid indicator of transfusion need in limited coronary vascular reserve? J Trauma 1992; 32:769–774.
29. Vallet B, Robin E, Lebuffe G. Venous oxygen saturation as a physiologic transfusion trigger. Crit Care 2010; 14:213–217. Red Blood Cell Transfusions
30. King KE (ed). Blood Transfusion Therapy: A Physician’s Handbook. 9th ed. Bethesda, MD: American Association of Blood Banks, 2008; 1–18, 91–95.
31. de la Roche MRP, Gauthier L. Rapid transfusion of packed red blood cells: effects of dilution, pressure, and catheter size. Ann Emerg Med 1993; 22:1551–1555.
32. Conrad SA, Dietrich KA, Hebert CA, Romero MD. Effects of red cell transfusion on oxygen consumption following fluid resuscitation in septic shock. Circ Shock 1990; 31:419–429.

33. Dietrich KA, Conrad SA, Hebert CA, et al. Cardiovascular and metabolic response to red blood cell transfusion in critically ill volume-resuscitated nonsurgical patients. Crit Care Med 1990; 18:940–944.
34. Marik PE, Sibbald W. Effect of stored blood transfusion on oxygen delivery in patients with sepsis. JAMA 1993; 269:3024– 3029.
35. Fuller BM, Gajera M, Schorr C, et al. Transfusion of packed red blood cells is not associated with improved central venous oxygen saturation or organ function in patients with septic shock. J Emerg Med 2012; 43:593–598.
36. Kiraly LN, Underwood S, Differding JA, Schreiber MA. Transfusion of aged packed red blood cells results in decreased tissue oxygenation in critically ill trauma patients. J Trauma 2009; 67:29–32. Transfusion Risks
37. Carson JL, Guyatt G, Heddle NM, et al. Clinical practice guidelines from the AABB. Red blood cell transfusion thresholds and storage. JAMA 2016; 316:2025–2035.
38. Carson JL, Triulzi DJ, Ness PM. Indications for and adverse effects of red-cell transfusions. N Engl J Med 2017; 377:1261–1272.
39. Kuriyan M, Carson JL. Blood transfusion risks in the intensive care unit. Crit Care Clin 2004; 237–253.
40. King KE (ed). Acute transfusion reactions. In: Blood Transfusion Therapy: A Physician’s
Handbook, 9th ed. Bethesda, MD: American Association of Blood Banks, 2008; 148–173.
41. Greenberger PA. Plasma anaphylaxis and immediate-type reactions. In: Rossi EC, Simon TL, Moss GS (eds). Principles of transfusion medicine. Philadelphia: Williams & Wilkins, 1991; 635–639.
42. Rohde JM, Dimcheff DE, Blumberg N, et al. Health Care-associated infection after red blood cell transfusion. A systematic review and meta-analysis. JAMA 2014; 311:1317–1326.
43. Panch SR, Montemayor-Garcia C, Klein HG. Hemolytic transfusion reactions. N Engl J Med 2019; 381:150–162.
44. Goodnough LT. Risks of blood transfusion. Crit Care Med 2003; 31:S678–S686.
45. Semple JW, Rebetz J, Kapur R. Transfusion-associated circulatory overload and transfusionrelated acute lung injury. Blood 2019; 133:1840–1852.
46. Roubinian NH, Hendrickson JE, Triulzi DJ, et al. Contemporary risk factors and outcomes of transfusion-associated circulatory overload. Crit Care Med 2018; 46:577–585.
47. Vamvakas EC, Blajchman MA. Transfusion-related immunomodulation (TRIM): an update. Blood Rev 2007; 21:327–348.
48. Taylor RW, O’Brien J, Trottier SJ, et al. Red blood cell transfusions and nosocomial infections in critically ill patients. Crit Care Med 2006; 34:2302–2308.
49. Juffermans NP, Prins DJ, Viaar AP, et al. Transfusion-related risk of secondary bacterial
infections in sepsis patients: a retrospective cohort study. Shock 2011; 35:355–359.
50. Marik PE, Corwin HL. Efficacy of red blood cell transfusion in the critically ill: A systematic review of the literature. Crit Care Med 2008; 36:2667–2674.

TẢI FILE PDF TÀI LIỆU TẠI ĐÂY.

The post Chương 12. Thiếu máu và truyền hồng cầu – Ths. Bs Hồ Hoàng Kim – EDICU – BV Nguyễn Tri Phương appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/chuong-12-thieu-mau-va-truyen-hong-cau-ths-bs-ho-hoang-kim-edicu-bv-nguyen-tri-phuong/feed/ 0
Tìm hiểu nội dung và tải miễn phí sách Tố Nữ kinh PDF – Lê Văn Sửu https://hmm88i.com/tim-hieu-noi-dung-va-tai-mien-phi-sach-to-nu-kinh-pdf-le-van-suu/ https://hmm88i.com/tim-hieu-noi-dung-va-tai-mien-phi-sach-to-nu-kinh-pdf-le-van-suu/#respond Mon, 12 Aug 2024 09:25:15 +0000 https://hmm88i.com/?p=25804 Sách Tố Nữ kinh cung cấp kiến thức và những suy ngẫm tinh tế về hành vi giới tính của nam nữ, góp phần quan trọng trong giáo dục giới tính

The post Tìm hiểu nội dung và tải miễn phí sách Tố Nữ kinh PDF – Lê Văn Sửu appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Tải miễn phí PDF sách Tố Nữ kinh TẠI ĐÂY

Tố Nữ kinh

Toàn tập ‐ Nguyên bản ‐ Chân bản

Người dịch: Lê Văn Sửu

Mục Lục

Lời nhà biên soạn………………………………………………………………2

Lời nói đầu………………………………………………………………………2

Trung Quốc Tố Nữ Kinh tự……………………………………………………3

Yếu Chỉ ‐ Yếu Mục……………………………………………………………..4

TỐ NỮ KINH……………………………………………………………………9

TỐ NỮ PHƯƠNG ……………………………………………………………..23

NGỌC PHÒNG BÍ QUYẾT……………………………………………………28

NGỌC PHÒNG CHỈ YẾU…………………………………………………….36

ĐỘNG HUYỀN TỬ ‐ PHÒNG TRUNG THUẬT …………………………….39

THIÊN ĐỊA ÂM DƯƠNG GIAO HÂN ĐẠI LẠC PHÚ……………………..51

Sách dịch nguyên bản nhiều từ khó hiểu

Không phổ biến rộng rãi

Lời nhà biên soạn

Từ hai nghìn năm trước đây, học giả Nữ tính đầu tiên của Trung Quốc là “Tố Nữ” sáng lập việc nghiên cứu sinh hoạt tính và biên soạn “Tố Nữ kinh” vấn thế, trong đó có tính mở mang trí thức, suy ngẫm tinh tế. Trải qua các thời đại, trong hoàng thất (các cung điện nhà vua) và học giả không thể không coi là của quý báu.

Gần đây, bác sĩ Kim Trại (Jĩn – Sài) ở nước Mỹ phát biểu về hành vi giới tính của nam nữ, đã có tiếng vang trên toàn cầu, thời đó đều là để xướng giáo dục giới tính, khởi phát trí thức về giới tính nam nữ, cho nên đặc biệt là đem sách này hiến cấp cho nhân sĩ trong xã hội, đã nhanh chóng thu được kết quả, may mà không bị xếp vào thư mục dâm tiết!

Sau khi xem qua thấy được ích lợi của nó, xin giới thiệu cùng bè bạn.

Sách còn không nhiều, muốn mua được phải nhanh chóng.

Mỗi quyển định giá hai đồng, các nơi đều có đại lý bán.

Nhật Bản tính Y học viện nghiên cứu xã khải.

Lời nói đầu

Giao tiếp âm dương trong tự do tự tại, riêng loài người được nhiều một cách khác thường, bất kỳ lúc nào cũng có thể giao hợp, không như cầm thú việc động dục chỉ có từng thời kỳ. Hình thái giao hợp của con người cũng rất lắm cách như giao hai mặt vào nhau, giao bên cạnh, đứng giao, cúi xuống giao, ngồi giao, ngồi xổm giao, giao phía lưng, giao phía sau…, không như cầm thú chỉ biết giao phía sau lưng và phía sau mà thôi. Sự giao tiếp của loài người như thế đã tiện lại làm cho khoái cảm đạt được đến cực độ tốt đẹp, đó mà chỗ mà vạn vật không đạt tới được, vì vậy sinh dục mới làm cho người con gái đẹp đẽ ra, mới giữ gìn được cái tinh nhanh (linh) của con người trong vạn vật, quý hóa thay. Thật là sung sướng! Giao tiếp âm dương của loài người là một cái Đạo, thật là đáng quý đối với đàn ông, cái may mắn riêng trong vườn vui thú, làm sao lại có thể không biết cái đạo đó ngồi để mất cơ hội tốt, có phụ cái trời cho đó không? Huống hồ người ta sống không quá trăm năm, riêng nói về sáng tối nghỉ ngủ đã hao đi mất một phần ba trong đó, khi nhận giao tiếp với người càng thuộc loại ngắn tạm, thành thật là nên lợi dụng thêm đạo đó để cầu lấy sự khỏe mạnh vui vẻ, đầy đủ ý nghĩa của sự sống con người, tăng thêm nhiệt tình nam nữ, tăng tiến đến giống nòi khỏe mạnh, quốc gia hùng mạnh, mong rằng sự giao tiếp của loài người càng sáng trí tính dục càng tốt, càng ngu độn tính dục càng nhạt nhẽo. Người sáng trí thì trong hàng nghìn, hàng vạn không quá số mấy người. Số người sáng trí đó là nam nữ, có thể hội âm dương, cái đạo giao tiếp, lại ít như căn phòng buổi sớm (hựu liêu nhược thần ốc). So đọ với vạn người ngu độn, không biết cái đạo đó, ăn mà không biết mùi vị món mình ăn, làm thô bạo con đường trời cho, làm hư một mức cõi đời, có khi còn lạm làm giao tiếp, làm tàn hại thân thể, mắc bệnh chết non, một cuộc sống khổ não, làm tính hy sinh, càng không bàn! Ta đây không như họ, từ mấy nghìn năm nay ở nước ta có dính líu với hiểu biết về giao tiếp nam nữ, là thú tính tự tư và đạo đức giả đã ngăn cản, nhà trường cấm không giảng, cha mẹ kiêng tránh mà không nói, tránh không như sâu, chỉ có mài rách cái đen tối biết được sự tồn tại của tính giao, mà không lý giải quy luật cơ bản của tính giao, trước hết không biết hưởng thụ hợp lý tính giao. Cho nên nói rằng biết là khó khăn, phải nên trước hết cầu sự biết, biết rồi sau đó mới làm, vốn là có thể biết tất có thể làm, biết và làm hợp với nhau thành một, dùng được cái đạo đó, tự con người vào được thiên đường đẹp lạ lùng vậy.

Đồng liêu của tôi là Trùng Quang Thứ Lang, tuổi đã cổ lai hy, tóc đen mặt như trẻ nhỏ, nhìn chỉ thấy như như mới ngoài bốn chục tuổi. Các thế hệ trước làm đến tướng trong cung, con cháu hiển quý, là quý tộc của Nhật Bản, thê thiếp đầy nhà, nuôi gần nghìn người hầu. Thứ Lang khi còn trai trẻ, thích đi chơi với người hầu, thoạt đầu không biết đạo giao tiếp, tự làm cho thể chất phiền chán, trăm bệnh phát sinh chồng chéo lên nhau. Từ khi có được trên giá đựng sách cuốn “Ngọc phòng bí quyết Tố Nữ kinh”, xem xét kỹ lý luận, nhiều lần thực tiễn, làm đúng theo đạo đó. Ngoài thì tìm hoa bẻ liễu, duyệt qua hàng trăm con gái, trong thì tiếp nàng hầu phần lớn là chọn vào còn tân. Ngày đêm chưa thỏa, thường có một đêm qua mười người con gái trở lên. Mỗi lần giao tiếp với một nữ, lại tất là rất sướng mới dừng, bốn mươi năm như thế không ngừng, con trai con gái khôn lớn, thể lực thêm khỏe, vững mạnh như thời trai tráng, nay vẫn còn có thể một ngày ngự mấy người con gái, già nhưng không suy, làm cho con người khỏe đẹp. Người con gái được giao đó, cũng không thể không nghiêng lòng yêu say đắm, cái có ích trùm lên vốn là ở sự dạy dỗ của đám sách vở đó.

Đám sách này từ đời Tùy Đường trở về trước, hàng nghìn năm đó là yếu chỉ Hm8803 hiện đang mở, nhưng trong cung giữ kín gốc, nhà vua dùng để ngự ba nghìn cung nữ. Ở Nhật Bản trong những năm Khoan Bình, lưu truyền sang Nhật Bản, nhưng thường giữ kín không cho mọi người thấy, khó mà nhìn trộm thấy tất cả, họ coi là quốc túy đáng truyền, một tấc cũng không rời mà chỉ truyền lưu trong tầng lớp phong kiến thừa kế. Từ sau khi bác sĩ Kim Trại ở nước Mỹ phát biểu về hành vi tính nam nữ, bắt đầu Nhật Hoàng đồng ý cho thụ mệnh nhiếp Tố Nữ kinh, Tố Nữ phương, Ngọc Phòng bí quyết, Ngọc Phòng chỉ yếu, Động Huyền Tử, và Thiên Địa Âm Dương giao hoan đại lạc phú, cung cấp cho mọi trai gái trong dân nước, nhằm thu về được sự biết và làm đúng theo một năng lực hoạt động tốt, làm giao tiếp thích đáng, cùng đưa thêm tuổi thọ và vững mạnh vào thế giới cực lạc, làm cho tươi tốt tài trí khỏe đẹp người con gái đời sau. Chúng ta đây xin bái nhận sự ban ân của Hoàng Thượng.

Nhật Bản Tính Y Học viện Kính ngôn.

Trung Quốc Tố Nữ Kinh tự

(Lời tựa Tố Nữ kinh của Trung Quốc)

Sách đời Tùy trong Kinh tịch chí (thư mục), bộ Tý, loại Y gia, có ghi Tố Nữ bí đạo kinh một quyển, lời ghi chú rằng đây không phải là Huyền Nữ Kinh. Lại thấy trong Tân Cựu Đường chí có ghi Tố Nữ một quyển. Tất cả đều không có chép theo vào đó. Duy chỉ có những năm Khoan Bình ở Nhật Bản trong thư mục có ghi Tố Nữ Kinh một quyển, mà không có Huyền Nữ Kinh, Tố Nữ phương, nghi rằng cả hai thứ đó chỉ là một quyển, không chia vụn ra. Niên hiệu Khoan Bình ở Nhật Bản rõ ràng là vào thời Tống của Trung Quốc. Thời đó nước ấy coi như sách quý, có dính líu tới Đạo. Cho nên sau thời loạn Ngũ Đại, nước ấy lấy mất sách, đều có chuyện nói về việc ấy. Kinh đó tuy chưa thấy có bản san (ván khắc), nhưng mà lại thấy ở nước đó vào năm thứ hai Vĩnh Quan có Đan Ba Khang Lại dâng bộ sách Y Tâm Phương gồm hai mươi tám quyển, xuyên suốt từ đầu đến cuối giống như một cặp sách. Năm Vĩnh Quan thứ hai là vào Tống Thái Tông Hy nguyên niên, cách đời Đường chưa xa, ở đó sử dụng Ngọc Phòng Bí Quyết, Ngọc Phòng Chỉ Yếu, Động Huyền Tử, các kinh đó đều nói về công việc trong buồng, lại có các thiên dưỡng Âm Dương, đại để như hai chí của Hán, Tùy, so với sách xưa thì mười phần cũng được tám, chín. Ngày nay các học giả về môn vệ sinh ở các nước Âu Tây, ngoài việc nghiên cứu tỉ mỉ về ăn uống, nam nữ, còn soạn dịch ra những sách mới về vệ sinh hôn nhân, giao hợp bộ máy sinh dục nam nữ, những người không biết thì lấy làm lạ và cho là quý báu. Họ rất là không biết rằng con cháu của thánh đế thần quân ở Trung Quốc đã được tìm học và nghe giảng về vấn đề đó từ bốn nghìn năm trước đây. Trong Vỹ Thư có chép, Khổng Tử Khuê phòng ký một cuốn sách, tuy không thấy truyền ở đời, nhưng cũng biết về cái học đó của cổ nhân. Lại như trong bộ Xuân Thu Phồn lộ đại tái lễ đã nói rằng: “Cổ nhân thai giáo chi pháp, không phải không khởi đầu từ tính tình, rộng mối nối tiếp, để đến cuối cùng là công năng của ngôi sinh đẻ” (Cổ nhân thai giáo chi pháp, vô phi đoan tính tình, quảng tự tục, dĩ tận vị dục chi công năng). Tính học mà tinh, mở đầu cho đời sau Lý học đi vòng qua Nho để mà liếc nhìn thấy cái yếu diệu đó. Như là một kinh Tố Nữ, từ đó mà suy ra nó như cái xe lớn chở đạo đó. Trong kinh lẫn lộn những câu hỏi và trả lời của Huyền Nữ, Thái Nữ, ta thấy rằng Tố Nữ, Huyền Nữ vốn hợp làm một kinh, phù hợp với thuyết Tùy Thư gộp quyển. Văn ở đó phần đầu nhiều đoạn mào như Ngọc phòng bí quyết, Ngọc phòng chỉ yếu, Thái thanh kinh, Sản kinh, tất là từ mọi sách được dẫn ra. Quyển sách đó là tổ đầu tiên về thuật trong buồng, các nhà viết sách đều viện dẫn, làm cho người người đều được thấy, cho nên cũng không còn là của riêng để truyền trong dòng họ nữa. Tố Nữ phương chép trong quyển thứ mười bảy bộ Ngoại Đài Bí yếu đời Đường, xưng tên rõ ràng là Tố Nữ kinh tứ quý phương. Tôn tinh diễn lục, khắc vào Bình Tân quán tùng thư, độc giả nhờ bởi bộ sách xưa đời Tùy, Đường để tìm đoạn văn của cổ nhân chế thuốc cấm tình (chế dược cấm tình), cái đạo cần thiết cho nòi giống lâu dài, làm cho hoa chờ đợi ở tộc loại, giàu đẹp ở thần châu, hòa bình sống lâu khảo ở hưu chủy (nghỉ trưng) đủ thừa ở hợp với thời gian vô tận, đời có người đạt tới đọc thuộc mà học được điều bí mật (diên niên chủng tử chi yếu đạo, tỳ hoa tư chi tộc loại, phồn diễn ư thần châu, hòa bình thọ khảo chi hưu trưng, xung dật ư trụ hợp, thế hữu đạt nhân thục tụng nhi tiềm học yên). Đó là cái nghĩa đầu cuối của âm dương, nghĩ rằng được quá nửa. Lấy làm lời tựa.

Phụ ở trong có: Tố Nữ kinh, Tố Nữ phương, Ngọc Phòng bí quyết, Ngọc Phòng chỉ yếu, Động Huyền tử – Phòng trung thuật, Thiên địa âm dương đại hân đại lạc phú.

Yếu Chỉ – Yếu Mục

1. TỐ NỮ KINH CHI YẾU CHỈ

Biết đạo giao tiếp âm dương, tất thành vui khỏe, cái đạo đó thêm sống lâu dài không chết, không thể để cho lâu dài mà không có giao tiếp, giao tiếp mà quản thúc tinh, cái đạo giao tiếp đó, nam có tám tiết, nữ có cửu cung, muốn giao tiếp mà dương vật (ngọc kinh) không cương lên, có thể tránh bảy thứ tổn, hành cái đạo tám thứ ích, mỗi lần tiếp là cương lên, cái dáng vẻ của cách giao tiếp âm dương và cái đạo hành chín chín, dương vật có đạo ngũ thường là nhân nghĩa lễ trí tín, biết khi con gái khoái cảm, có năm cái trưng, năm cái muốn và mười cái động. Dương vật có bốn cái phải đến mức (tứ trí), bốn cái mức phải tới mà đến là sức sống dấy lên mạnh mẽ của dương vật (ngọc kinh nỗ), to, rắn, cứng, nóng, biết như thế nào là chín cái khí của con gái.

Dáng vẻ đẹp của chín cách giao tiếp có chín loại

1 – Long phiên (con rồng quay ngược lại)

2 – Hổ bộ (con hổ bước đi)

3 – Viên bác (con vượn chạy)

4 – Thiền phụ (con ve bám)

5 – Quy đằng (con rùa bay lên)

6 – Phượng tường (con phượng liệng)

7 – Thỏ duẩn (con thỏ bú)

8 – Ngư tiếp lân (con cá tiếp vẩy)

9 – Hạc giao cảnh (con hạc giao cổ)

Dáng vẻ đẹp của giao tiếp tám cái ích có tám loại

1 – Cố tinh (giữ tinh không cho chảy tùy tiện).

2 – An khí (giữ hơi thở cho đều đặn).

3 – Lợi tạng (làm cho tạng khí hoạt động dễ dàng).

4 – Cường cốt (làm cho cứng xương).

5 – Điều mạch (làm cho mạch được điều hòa).

6 – Súc huyết (nuôi dưỡng được máu tốt).

7 – ích dịch (thêm chất dịch trong người).

8 – Đạo lễ (có đạo lễ).

Dáng vẻ đẹp của giao tiếp trị bảy thứ tổn có bảy loại:

1 – Tổn gọi là tuyệt khí (mất khí lực).

2 – Tổn gọi là dật tinh (tràn tinh dịch).

3 – Tổn gọi là tập mạch (mạch bị bó bọc lại).

4 – Tổn gọi là…..tiết (…..chảy ra).

5 – Tổn gọi là cơ quan khuyết thương (các bộ máy bị hư hỏng).

6 – Tổn gọi là bách bí (trăm thứ bế tắc lại).

7 – Tổn gọi là huyết kiệt (khô cạn máu).

Khi giao tiếp không kể xiết cái hiệu quả, cái động trên giao tiếp không kể xiết cái vui, thân thể mạnh yếu, trạng thái tuổi già với kỳ hạn số ngày giao tiếp và số lần giao tiếp, con trai biểu hiện chứng thịnh suy. Nam có năm thứ suy, cách trị năm thứ suy, giao tiếp âm dương cần tránh chín cái vạ (cửu ương), cách giao tiếp để cầu con, đáng tránh kỵ khi giao tiếp, trị bệnh giao với quỷ, ăn uống uống các thứ thuốc có hiệu cho giao tiếp, bài thuốc chữa con gái âm dương khí thịnh. Cái lẽ trong văn có nói rõ tinh tế.

2. TỐ NỮ PHƯƠNG CHI YẾU MỤC

Bảy điều kỵ khi giao tiếp:

1 – Ngày cuối tháng trăng (nhật nguyệt hối minh).

2 – Khi có sấm sét gió mưa.

3 – Vừa mới ăn uống no.

4 – Vừa mới đi tiểu tiện tinh khí nhỏ yếu.

5 – Làm việc và đi bộ thân thể mệt mỏi.

6 – Vừa mới tắm gội xong.

7 – Nói chuyện với con gái.

Con trai thất thương (bảy thứ bị hại)

1 – Hạ bộ có mồ hôi (âm hãn).

2 – Âm suy (hạ bộ teo nhỏ).

3 – Tinh trong (trong không có màu đặc).

4 – Tinh ít.

5 – Dưới bìu có mụn ghẻ ẩm ngứa.

6 – Đi đái nhiều lần mà ít nước.

7 – Dương vật mềm rụt lại.

Trị thất thương ở bốn mùa xuân, hạ, thu, đông bằng bốn loại phương bổ ích.

– Ba tháng xuân dùng Cánh sinh hoàn

– Ba tháng hạ dùng Bổ thận Phục linh hoàn.

– Ba tháng thu dùng Bổ thận Phục linh hoàn (phương này và phương dùng trong mùa hạ không giống nhau).

– Ba tháng đông dùng Thừa mệnh Phục linh hoàn.

Không tránh lạnh, nóng, cả bốn mùa thông thường uống Phục linh tán, Tô phương, Phục linh cao phương (phụ – Thiên Hùng hoàn Tương Tư tỏa Thái Bình công chúa Vạn Thanh Kiều v.v… Phương pháp của các phương này có nói rõ ở trong phần văn cuối sách).

3. NGỌC PHÒNG BÍ QUYẾT CHI YẾU MỤC

Tố Nữ nói rằng: Đàn ông muốn lấy âm bổ dương, phải ngự (giao hợp) với con gái còn nhỏ (đồng nữ), không thể riêng chỉ giao với một nữ, nhiều nhiều con gái khác nhau, một nam thay đổi từ trên mười nữ là tốt nhất. Vương Mẫu dưỡng âm mà đắc đạo, lấy dương dưỡng âm, trăm bệnh được tiêu trừ, không già mà cứ mãi như trẻ nhỏ, có thể nhịn ăn chất bột mà sống lâu dài (khả dĩ tuyệt cốc trường sinh).

(Trong sách này có phụ thêm cách chữa cực tình sính dục tổn thương bằng giao tiếp, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ bằng cách giao tiếp, chữa chứng đau lưng bằng cách giao tiếp, chữa chứng đau đầu bằng cách giao tiếp, chữa sau khi ăn no bằng cách giao tiếp, chữa chứng say rượu bằng cách giao tiếp, chữa chứng đái buốt (lậu) bằng cách giao tiếp, trị bệnh trĩ bằng cách giao tiếp, trị chứng giao tiếp mà gặp phải phong tà nhập vào thân thể bằng cách giao tiếp, làm cho người ta sáng mắt bằng cách giao tiếp, làm cho tai người ta không điếc bằng cách giao tiếp, điều ngũ tạng bằng cách giao tiếp, cách giao tiếp làm cho hoàn tinh trở lại thành chất dịch mà không cho chảy ra.

Làm chín nông một sâu, vào mềm ra cứng, để lấy khí của con gái, làm cho dương vật cứng như sắt, nóng như lửa, cách giao tiếp đó trăm trận đánh không gặp nguy hiểm.

Giao tiếp âm dương có bảy điều cần tránh:

1. Tránh lúc sấm gió trời đất cảm động.

2. Tránh ngày đầu tháng và ngày cuối tháng trăng.

3. Tránh lúc vừa ăn cơm và uống rượu.

4. Tránh lúc vừa mới đi tiểu tiện.

5. Tránh lúc mới làm mệt vác nặng.

6. Tránh lúc vừa mới tắm gội xong.

7. Tránh cơn giận dữ cứng rắn của người lính.

Cách giao tiếp khi bị chứng sinh con câm điếc.

Cách giao tiếp khi bị chứng sinh con tử thương (chết khi sinh).

Cách giao tiếp khi bị chứng sinh con điên cuồng.

Cách giao tiếp khi muốn đẻ con trai.

Cách giao tiếp khi muốn sinh con trai thông minh.

Cách giao tiếp khi muốn sinh con gái thanh hiền.

Cách giao tiếp để giàu sang trường thọ.

Cách giao tiếp giữa ông già và con gái trẻ hoặc giữa bà già và con trai trẻ để sinh con đều thọ.

Cách giao tiếp làm cho người đàn bà sinh con trai.

Cách giao tiếp thích hợp với con gái.

Cách giao tiếp có tổn hại cho đàn bà.

Có mười bảy chứng bệnh của người con gái không thể giao tiếp.

Khí hậu của trời đất, sông núi và quỷ thần trưng hiện có quan hệ không thể giao tiếp.

– Nguyệt sát không thể giao tiếp.

– Ngày phá không thể giao tiếp, và ngày huyết kỵ không thể giao tiếp.

– Phương thuốc trị chứng đàn ông liệt dương, dương vật mềm không thể cương cứng lên được.

– Phương thuốc làm cho dương vật của đàn ông to và dài ra.

– Phương thuốc trị chứng đau do bị thương bởi giao lần đầu.

– Phương thuốc trị chứng con gái sưng cửa mình đau đớn.

4. NGỌC PHÒNG CHỈ YẾU CHI MỤC

Hoàng Đế giao với hai ngàn con gái mà lên tiên, nhưng được bảy tám con gái cũng có ích lớn. Cái đạo giao tiếp nghiên cứu (vân) Đan điền, cầu đúng cái miệng đó, ấn sâu lắc nhẹ, người con gái khi giao tiếp cảm trạng thái của dương, dịch của ngũ tạng ở lưỡi, gọi cái đó là ngọc tương, có thể tuyệt cốc (thôi không ăn chất bột) thường chứa dịch trong lưỡi, làm cho trong dạ khai thông, cái đạo giao tiếp, việc phải làm trước hết là từ từ chơi đùa, làm cho thần và ý cảm, một ngày giao với số chục nữ mà không mất tinh, mọi bệnh đều khỏi hết, thêm thọ lâu dài là cách hoàn tinh bổ não.

Phương thuốc trị làm cho nam một đêm giao trên chục lần không phải thở dồn. Phương thuốc trị làm cho dương vật to và dài ra. Phương thuốc làm cho cửa mình con gái (ngọc môn) nhỏ lại. (phụ: Đồng nữ đơn, bảy loại phương Thôi xuân).

5. ĐỘNG HUYỀN TỬ – PHÒNG TRUNG THUẬT YẾU MỤC

Người ta đến mức trên hết, không qua việc phòng dục (tình dục trong phòng). Cái đạo giao tiếp, có hình co duỗi nằm ngồi, thế mở giãng (khai trương) ngửa sấp, cách nghiêng lưng trước sau, quy định ra vào nông sâu, nam xoay trái mà nữ quay phải, nam xông lên mà nữ tiếp xuống, tiến thoái kéo dẫn, trên dưới đón đưa, trái phải qua lại, ra vào thưa dày (sơ mật), vào việc liệu chừng cho phù hợp (lâm sự chế nghi), không nên cứng nhắc (bất khả cố thủ). Trước khi giao tiếp thì cầu tình, theo thể thức khi giao lần đầu, hình thế giao tiếp có ba mươi dáng vẻ như sau:

1 – Tự trù mưu (tụ hội bàn mưu).

2 – Khiển quyến (quấn quít khó gỡ).

3 – Bạo tai ngư (cá phồng mang).

4 – Kỳ lân giác (sừng kỳ lân).

5 – Tàm triền miên (tằm dăng tơ).

6 – Long uyển chuyển (rồng uốn lượn).

7 – Tỷ mục ngư (cá đọ mắt).

8 – Yến đồng tâm (chim yến đồng lòng).

9 – Phỉ thúy giao (chim bói cá giao).

10 – Uyên ương hợp (chim uyên họp).

11 – Không phiên điệp (bướm bay trên không).

12 – Bối phi phú (vịt trời bay ngược lại).

13 – Yển cái tùng (nằm ngửa buông nắp đậy).

14 – Lâm đàn trúc (gặp cái bệ cao bằng trúc).

15 – Loan song vũ (chim loan múa đôi).

16 – Phượng tướng sô (chim phượng đem gà đi).

17 – Hải âu tường (chim hải âu lượn).

18 – Dã mã dược (ngựa hoang chạy).

19 – Ký sánh túc (chân ngựa mở ra).

20 – Mã dao đề (ngựa lắc móng).

21 – Bạch hổ đằng (hổ trắng nhảy).

22 – Huyền thuyền phụ (con ve đen bám).

23 – Sơn dương đối thụ (dê núi nhằm vào cây).

24 – Côn kê lâm trường (chim côn kê gặp bãi).

25 – Đan huyệt phượng du (chim phượng chơi ở huyệt đỏ).

26 – Huyền minh bằng chử (mưa bay chéo chim bằng bay lên).

27 – Ngâm viên bão thụ (vượn rên rỉ ôm cây).

28 – Miêu thử đồng huyệt (mèo và chuột cùng trong một huyệt).

29 – Tam xuân lư (con lừa ba tuổi).

30 – Thu cẩu (chó mùa thu).

(Phụ: ba mươi loại dáng vẻ giao tiếp và chú giải tên gọi, mọi điều sẽ thuật rõ ở đoạn văn dưới).

Hình thức giao tiếp có chín loại

1. Nhược mãnh chi phá trận (mạnh mẽ như phá trận).

2. Nhược dã mã chi khiêu gián (ngựa hoang nhảy qua khe núi).

3. Nhược trục ba chi quần âu (như đám chim hải âu đuổi sóng).

4. Nhược nhã cữu chi tước uế (như mỏ chim sẻ giao tình…).

5. Nhược đại thạch chi đầu hải (như hòn đá lớn ném xuống biển).

6. Nhược đông xà chi nhập huyệt (như con rắn bị lạnh đi vào huyệt).

7. Nhược kinh thử chi thấu huyệt (như con chuột sợ hãi chui qua huyệt).

8. Nhược thanh loan chi du giảo thỏ (như con loan xanh lôi con thỏ gian).

9. Nhược đại phàm chi cuồng phong (như buồm lớn gặp gió xoáy).

Khí thế giao tiếp có sáu loại

1. Nhược phẫu thạch chi tầm mỹ ngọc (như chẻ đá để tìm ngọc đẹp).

2. Nhược cắt bạng nhi thủ minh châu (như cắt con trai để lấy ngọc sáng).

3. Nhược thiết chử chi đầu dược cữu (như chày sắt giã vào cối thuốc).

4. Nhược ngũ chùy chi sát thiết thạch (như năm cái búa rèn đập sắt đá).

5. Nhược nông phu chi khẩn thu nhưỡng (như nông phu vỡ đất mùa thu).

6. Nhược lưỡng nham chi tương khâm (như hai mỏm núi cao cung kính nhau).

Cách tiết chế tinh dịch cho chảy ra nhiều ít

Hai nam sinh con gái và ngày giờ giao tiếp. Nam nữ cần đồng thi chảy tinh, khi người con gái đã mang thai và thai giáo. Tuổi đàn ông nhiều hơn nữ tổn nữ. Tuổi đàn bà nhiều hơn con trai tổn con trai. Tổn hay có ích của giao tiếp có quan hệ với phương hướng và ngày giờ.

Phương Tú kê tán chữa con trai ngũ lao thất thương, dương vật mềm không cương cứng lên được. Phương lộc giác tán chữa lưng và thắt lưng đau lạnh.

6. Phụ có: THIÊN ĐỊA ÂM DƯƠNG GIAO HÂN ĐẠI LẠC PHÚ

Nguyên bản đúng gốc

(Nguyên bản chân bản)

TỐ NỮ KINH

Toàn tập

Nhật Bản Tính Y học viện nghiên cứu xã trân tàng

Hoàng Hán Y học gia Đan Ba Khang Lại cung trứ

Hoàng Đế hỏi Tố Nữ: “Ta khí suy nhược không hòa, trong tâm không vui, thân thường sợ nguy, nên sẽ như thế nào?”.

Tố Nữ nói: “Người ta nói chung sở dĩ suy vi, đều do đường giao tiếp âm dương gây hại. Nữ mà thắng nam, do thủy thắng hỏa, biết làm cái việc đó như phá nồi vạc có thể trộn đều ngũ vị, lấy làm cái thìa múc nước nấu, có thể biết con đường âm dương, lấy làm thành năm thứ vui, nếu không biết cái đó, thì thân mệnh sẽ yểu (chết non), vui sướng sao được? Khá chẳng nên cẩn thận lắm sao!”.

(Chú giải) Bộ máy sinh dục của nam nữ làm giao tiếp để đẻ con, nhưng khi dùng đắc đạo, gọi là thuận với trời. Thuận với trời thì còn (thuận thiên giả tồn). Dùng mất cái thời của đạo đó gọi là nghịch với trời. Nghịch thiên giả vong (ngược với trời thì mất).

(Tất cả chú giải là do người Nhật thêm vào, không có trong nguyên bản)

Tố Nữ nói: Có người Thái Nữ rất diệu thuật đạo, nhà vua sai Thái Nữ hỏi Bành Tổ cách để sống lâu thêm thọ.

Bành Tổ nói rằng: “Yêu cái tinh để dưỡng thần, uống ăn các loại thuốc, có thể được sống lâu, nhưng nếu không biết cái đạo giao tiếp, tuy có uống thuốc cũng không ích gì. Trai gái cùng thành, do trời đất cùng sinh vậy. Trời đất được đạo giao hội, cho nên không có cái hạn cuối cùng. Người ta mất đi cái đạo giao tiếp, cho nên gẫy non dần dần, có thể tránh việc gây hại chậm, mà được thuật âm dương, là cái đạo bất tử.”

(Ái tinh dưỡng thần, phục thực chúng dược, khả đắc trường sinh, nhiên bất tri giao tiếp chi đạo, tuy phục dược vô ích. Nam nữ tương thành, do thiên địa tương sinh dã. Thiên địa đắc giao hội chi đạo, cố vô chung cánh chi hạn. Nhân thất giao tiếp chi đạo, cố hữu yểu chiết chi tiệm, năng tị tiệm thương chi sự, nhi đắc âm dương chi thuật, tắc bất tử chi đạo.)

Thái Nữ lại lạy mà nói: “Xin muốn được dạy cho những điều cần biết”.

Bành Tổ nói: “Đạo rất là dễ biết, người ta không thể tin mà làm theo. Nay vua chúa ngự hàng vạn vùng ngoại thành (kỳ), trị thiên hạ, tất không thể đủ thời gian để làm theo các thứ đạo. May mắn thay là lại có nhiều hậu cung, nên biết cách giao tiếp cách cốt yếu là ngự ở nhiều con gái trẻ, mà không để chảy tinh nhiều lần, làm cho nhẹ mình, bách bệnh cũng trừ hết được”.

Tố Nữ nói: “Ngự địch gia (ngự người bị đem đến cho giao tiếp), phải coi địch như ngói đá, tự coi mình như vàng ngọc, như tinh đó động, phải nhanh chóng bỏ cái hưởng đó, ngự con gái phải như cầm dây cũ nát mà cưỡi con ngựa đang chạy, như gặp chỗ lõm dưới sâu có dao chém, sợ rơi vào trong đó, nếu như biết yêu quý cái tinh, mạng sống cũng sẽ không có cùng”.

(Chú giải) Đó là lời dạy người ta yêu tiếc cái “tinh”, ví dụ như trên trận giao phong (mũi nhọn gặp nhau), coi dịch nhân như ngói đá, tự mình tiếc “tinh” như vàng ngọc, nếu như sẽ gần tới vọt tinh ra phải đem rút dương vật ra, tất cần nhạc ngựa khi gặp sườn núi, làm cho sống lâu dài mà khỏe mạnh.

Hoàng Đế hỏi Tố Nữ rằng: “Nay ta muốn lâu dài kiêng không giao tiếp nên làm như thế nào?”.

Tố Nữ nói: “Không thể thế được, trời đất có mở đóng, âm dương có chuyển hóa, người ta có phép âm dương, tùy theo bốn mùa, nay muốn không giao tiếp, thần khí không được rải ra khắp, âm dương bị bế cách, lấy gì để tự bổ? Luyện khí làm số, bỏ cũ nạp mới, để tự giúp. Dương vật không động, là đem lại sự chết chóc, vì vậy thường làm là thường đạo dẫn (luyện phép dẫn khí trong kinh mạch), có thể động mà không cho (mất khí), gọi đó là hoàn tinh bổ ích, đạo sống mới rất hay.

Tố Nữ kinh nói:

Hoàng Đế rằng: Giao tiếp âm dương, điều độ phải như thế nào?

Tố Nữ đáp: Đạo giao tiếp, như có hình trạng, nam đến mức không suy, nữ trừ bách bệnh, tâm ý vui sướng, khí lực mạnh mẽ. Nếu không biết làm, dần dần suy tổn, muốn biết đạo đó, ở nơi định khí, an tâm, hòa chí, ba khí đều đến mức, thần minh quy về một mối, không lạnh không nóng, không đói không no, ninh thân định thể, tính tất thư trì (thong thả không vội vã), trong ngoài từ từ động, ra vào muốn thưa thớt (dục hi), nữ khoái ý, nam không suy, lấy đó làm mức.

(Chú giải) Giới tính của nữ có thể phát triển và phản ứng thông thường so với nam là rất chậm, nam nữ đôi bên cần triền miên đến chết, chờ đợi đạt đến khoái cảm cao nhất, động thời chảy tinh ra là dừng.

Tố Nữ kinh nói:

Hoàng Đế hỏi Huyền Nữ rằng: Ta học cái thuật âm dương của Tố Nữ, bắt đầu có phép, muốn làm lại mệnh, để cho hết cái đạo đó.

Huyền Nữ nói: Ở trong khoảng giữa trời và đất, động cần âm dương, dương được âm mà hóa, âm được dương mà thông, một âm một dương, cần nhau mà làm, cho nên nam cảm rắn chắc, nữ cảm giãn mở ra, hai khí giao tinh, dịch chảy thông nhau. Nam có tám điều cần hạn chế, nữ có cửu cung, nếu mất cái mức độ đó, nam sẽ mọc ung thư, nữ thì hại kinh nguyệt, trăm bệnh nảy ra và lớn lên, mệnh thọ bị tiêu mất, có thể biết cái đạo đó, vui mà lại khỏe, tuổi thọ thì tăng lâu dài, sắc tươi như hoa nở.

Hoàng Đế hỏi: Đạo giao tiếp âm dương, như thế nào?

Tố Nữ nói: Đạo giao tiếp vốn là có hình trạng, nam để hứng khởi khí, nữ để trừ bệnh, tâm ý vui thích, khí lực thêm khỏe, nếu không biết đạo đó, thì cái suy lấn vào, muốn biết cái đạo đó, ở chỗ yên tâm, hòa chí, tinh thần quy về một mối (an tâm, hòa chí, tinh thần thống quy), không nóng không lạnh, không đói không no, định thân ý ngay thẳng (bất hàn bất thử, bất bão bất cơ, định thân chính ý), tính tất là thong thả chậm chạp (tính tất thư trì), trong sâu động từ từ, ra vào muốn thưa thớt (thâm nội từ động, xuất nhập dục hy, dĩ thị vị tiết), lấy đó làm hạn chế. Cẩn thận không liều lĩnh làm trái cái đó, nữ sẽ vui thích, nam thì không suy (thận vô cảm vi, nữ ký hoan hỷ, nam tắc bất suy).

Hoàng Đế nói: Nay muốn giao tiếp mạnh mẽ, mà dương vật không cương cứng lên, mặt thuận mà ý sai, mồ hôi ra như hạt châu, tâm tình tham muốn, lấy tay giúp sức mạnh, làm thế nào cho cứng lên, muốn nghe cái đạo đó.

Tố Nữ nói: Chỗ mà Đế hỏi, mọi người cũng có thấy như thế. Nói chung muốn tiếp nữ, vốn có đầu mối, tất trước hết phải hòa khí, dương vật mới dấy lên thuận theo ngũ thường đó, có chín bộ cảm. Nữ có ngũ sắc, xét chỗ gõ chân (thẩm sở túc khấu). Lấy tinh đó tràn ra, lấy dịch ở miệng, tinh khí hóa trở lại, lấp đầy tủy não, tránh điều cấm về thất tổn, làm cái đạo tám thứ ích, không ngược với ngũ thường, thân mới có thể giữ được, chính khí đầy đủ ở trong, làm sao mà bệnh tật không phải bỏ đi, tức là phủ tạng được yên ổn, da dẻ sáng bóng, mềm mại, mỗi lần tiếp là lấy cương lên, khí lực gấp trăm lần, địch nhân phục tùng theo, làm sao mà phải thẹn? (hà tàm chi hữu: có gì mà phải thẹn).

(Chú giải) Điều cốt yếu ở đây là tâm bình tĩnh hơi thở êm ái, không thể gấp gáp nhiều, đợi dương vật cương vươn lên cao mới có thể hành sự.

Huyền Nữ kinh nói:

Hoàng Đế rằng: Khi giao tiếp hoặc không vui, chất đó không động, dịch đó không ra, dương vật không cứng, nhỏ mà không có thế, sao nó lại như thế?

Huyền Nữ nói rằng: Cái âm dương nó tương cảm mà tương ứng, cho nên dương không được âm thì không vui, âm không được dương thì không dấy lên, nam muốn tiếp mà nữ không vui, nữ muốn tiếp mà nam không muốn, do đó bất ngờ lên mà xuống cũng nhanh chóng, sung sướng chưa trọn vẹn. Nam muốn cầu nữ, nữ muốn cầu nam, tình ý hợp cùng nhau, đều có lòng vui, làm cho chất của nữ trương lên cảm nhận dương vật của nam, thế của nam to lớn, gò gõ đáp ứng tất đủ cho chuột (doang khấu du thử tất bị), tinh dịch chảy tràn, dương vật mềm nhẽo, đột nhiên nhanh đột nhiên chậm, cửa mình mở ra kẹp vào (co bóp cơ), hoặc làm nhiều mà không mệt, cường địch mắt chồng (cường địch mục phu), hít tinh dẫn khí, rải tưới khắp nhà đỏ. Tám việc xưa nay, phép đó đã đủ, duỗi co sấp ngửa, trước và ngược lại gấp gẫy. Đế xem xét lại mà làm theo cái đó, cẩn thận không để trái mất.

(Chú giải) Theo giải thích của Huyền Nữ, âm dương cần phải giúp nhau cảm ứng, dương không được âm thì không vui, âm không được dương thì cũng không hứng khởi, giúp nhau yêu thích mới sướng khoái. Con gái cảm thụ dương khí mà động tình, con trai cũng cảm đến âm khí dương vật mới bắt đầu có thể vươn dài được lâu. Con trai sau khi vươn dài và cứng rắn, như con chuột chui qua tường, ra vào tự như, trai gái lúc đó càng thích nhiều.

Tố Nữ kinh nói:

Hoàng Đế rằng: Âm dương quý ở cái có phép chăng?

Tố Nữ thưa rằng: Khi vào cuộc ngự con gái, trước hết làm cho người con gái đặt mình nằm ngay ngắn, gập hai chân, con trai vào giữa, ngậm cái miệng đó, mút cái lưỡi đó, phụ đập dương vật chọc vào trên dưới và hai bên cửa mình, cần như thế, từ từ cho vào trong, dương vật to béo thì cho vào một thốn rưỡi, yếu nhỏ thì cho vào một thốn, không lắc động, từ từ ra lại vào, trừ trăm thứ bệnh, không làm cho bốn bên cạnh chảy ra, dương vật vào trong cửa mình, tự nhiên sinh nóng lên rất nhanh, thân người đàn bà thường tự động lắc, lên cùng với con trai, sau đó là vào sâu, bách bệnh của nam nữ đều giảm. Đâm nông ở cầm huyền, vào ba thốn rưỡi, phải ngậm miệng mà đâm một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, rồi nhân đó vào sâu tới cạnh côn thạch dừng lại ở đó, miệng phải hít hơi của miệng đàn bà, làm cái đạo chín lần chín, xong đợt đó lại làm lại như thế.

(Chú giải) Nam nữ giao tiếp, con gái nằm ngửa, con trai úp lên trên, đó là dáng vẻ chính thống. Ngày nay nói rằng bộ máy làm tình của nam giới không ngoài dương vật và dịch hoàn. Dương vật là một cái gân thịt xốp, thường co giãn ở đó rải ra nhiều mạch máu, so với thân thể thì nó rất là nhỏ bé, nhưng mà thần kinh thì rất là sắc nhạy cảm, mỗi khi tính dục xung động, là nó đầy ắp huyết dịch, lập tức trương giãn to lên. Bình thường khi chưa bị kích thích dài chừng ba đến bốn thốn, vòng tròn và bề dài bằng nhau, khi mà bị kích thích nở trương dài và cất cao lên, dài sẽ khoảng sáu đến bảy thốn, đường kính ngang khoảng một thốn rưỡi đến hai thốn, phần đầu to mà gốc rất nhỏ, vùng cổ quy đầu có gân chằng rải ra (khoáng ước cân), tính nhạy cảm rất cao, dịch hoàn (cao hoàn) do một tuyến hình tùy viên làm thành, to như trứng chim bồ câu, bên ngoài là một túi da, gọi là thận nang, công dụng là bảo hộ an toàn cho dịch hoàn, thông thường dịch hoàn bên trái hơi cao lên so với dịch hoàn bên phải, công dụng của cái đó là để khi hai đùi kẹp lại thì viên bên trái có thể trượt lên mặt trên của viên bên phải, làm cho cái đó không bị chèn vỡ, tiện cho giao tiếp.

Âm bộ của con gái chia làm hai vùng trong và ngoài. Vùng ngoài là tổ chức môi lớn, âm hạch và âm hộ, là ba phần. Môi cửa mình có hai đôi, tức là môi lớn và môi nhỏ, mỗi đôi có hai mảnh trái và phải. Môi lớn to và dầy, môi nhỏ nhỏ mà mỏng, mặt ngoài mọc đầy lông nhung. Âm hạch là một loại tuyến, vị trí của nó ở giữa miệng âm hộ, giữa hai môi lớn. Vị trí của âm hộ ở phần rất thấp, là phần âm hộ thẳng đến âm đạo. Các vùng đó đều rải đầy khắp thần kinh nhạy cảm, cảm giác ở đây nhạy cảm khác thường, các môi và âm hạch lại rải đầy khắp những huyết quản. Đang lúc hưng phấn tình dục, là huyết dịch tràn đến đầy khắp mà trương giãn ra được dương vật xông vào cọ xát, sướng như vật xốp mềm chà vào đám ngứa, lập tức chuyền tới toàn thân, như say như ngây dại.

Ngoài cái đó ra là âm đạo của con gái và dạ con, âm đạo là một cái ống như một xoang trong người, từ âm đạo tới dạ con dài chừng bốn tấc Anh lại bảy phân, nông nhất là chừng ba tấc Anh và năm sáu phân, sâu nhất có năm tấc Anh và hai phân, bề to nhỏ của xoang đó vừa đủ chứa dương vật cắm vào không thừa chỗ để co giãn, tử cung giống như quả lê xoay chéo, vị trí ở trong huyệt tử cung, khi người con gái chưa bị chửa, phía trên nó có đường kính hai thốn, càng xuống càng nhỏ, do những thớ thịt rắn bền làm thành, rải đầy thần kinh mẫn cảm và những mạch máu có tính co giãn được, phía dưới cái quả đó là cổ dạ con, nối liền với âm đạo. Hình của buồng trứng giống như dịch hoàn, có hai cái, ở hai bên phải trái phía trên của dạ con, có ống thông vào dạ con, cái trứng từ đó du nhập dạ con, cho nên còn gọi là vòi dẫn trứng (du noãn quản).

Người con gái khi giao hợp, được kích thích nhiều nhất ở xung quanh âm môn, ở bờ mép phía trong môi âm và âm hạch. Phần lớn con gái thủ dâm chỉ cọ xát môi âm và âm hạch, đã đủ làm chứng. Một chỗ kích thích nhiều nhất của con trai ở dương vật là quy đầu, các bộ phận khác rất ít. Công dụng lông quanh dương vật của đàn ông là để phòng khi giao tiếp cọ xát, dòng điện lưu ở vùng xương sống trốn mất, để tăng thêm khoái cảm.

“Án” cầm huyền, tức là đoạn sâu trong âm hộ một thốn, hai thốn gọi là mạch xỉ, ba thốn gọi xú thử, bốn thốn gọi là côn thạch, năm thốn gọi là cốc thực. Một đến chín là làm cọ xát chín lần.

Hoàng Đế nói: Thế nào là Ngũ Thường?

Tố Nữ đáp: “Dương vật đúng là có đạo Ngũ Thường, ở nơi sâu kín, náu ẩn giữ lấy sự hạn chế, ôm ở trong đó cái Đức. Thí làm không thôi, đó là nói dương vật muốn có ý làm với người là Nhân. Ở trong có trống rỗng là Nghĩa. Ý muốn thì cương dấy ngay lên, không muốn là dừng ngay là Tín. Nghiêm chỉnh có hạn chế là Lễ. Khi gặp thấp mà ngửng lên là Trí. Cho nên Chân nhân bởi lúc thường mà hạn chế cái Nhân đó rất giỏi, tức là thường biết cái đạo giao tiếp âm dương, cho nên mới có thể theo Ngũ Thường, thân mới thọ”.

Hoàng Đế nói: Làm thế nào mà biết được người con gái sướng?

Tố Nữ đáp: Có năm vi, năm dục, lại có mười động, lấy việc xem họ chịu mà biết được như thế.

Ngũ vi có biểu hiện (hậu):

1 – Một là thấy mặt đỏ thì từ từ hợp.

2 – Hai là vú rắn lại mà mũi có mồ hôi thì từ từ cho vào trong.

3 – Ba là họng khô mà cổ họng có nước bọt, thì từ từ lắc.

4 – Bốn là trong cửa mình trơn, thì từ từ cho vào sâu.

5 – Năm là ở xương đuôi có dịch chảy tới, thì từ từ dẫn (cho ra cho vào là dẫn).

(Chú giải) Cái hình ảnh để gọi là vi như sau:

1 – Thấy mặt con gái đỏ lên, tức là họ nghĩ đến giao hợp.

2 – Gõ dương vật nạp vào âm hộ.

3 – Cho vào rồi thấy họ như thế thì lắc động dương vật.

4 – Tức là cho vào sâu.

5 – Là nói về tinh dịch chảy xuống đến mông.

Tố Nữ nói: Ngũ dục (năm cái muốn) phải biết để mà đáp ứng:

1 – Một là ý muốn, thì ngưng thở ngưng khí.

2 – Hai là âm hộ muốn, thì mũi và miệng trương ra.

3 – Ba là tinh muốn phiền phấn chấn rung động mà ôm lấy đàn ông.

4 – Bốn là tâm muốn thỏa mãn, thì mồ hôi chảy ra ẩm ướt cả quần áo.

5 – Năm là sướng mà muốn đến cực độ hơn thì mình cứng ra mà mắt thì buồn ngủ.

(Chú giải) Tố Nữ nói rõ năm cái muốn của người con gái, tức là có thể xem cái biểu hiện tình cảm bằng cử động để biết được.

Tố Nữ nói: Mười cái động (thập động) là hiệu quả của cảm giác như sau:

1 – Một là, hai tay ôm người ta, là muốn thân thể cùng mỏng đi, âm hộ và dương vật đúng vào nhau.

2 – Hai là duỗi hai ống chân để khép xát cọ phía trên.

3 – Ba là bụng trướng là muốn tiết (chảy nước ra từ từ).

4 – Bốn là động xương đuôi, là sướng đó.

5 – Năm là nâng hai gót chân lên quặp lấy người ta, đó là muốn vào sâu hơn nữa.

6 – Sáu là kẹp chéo hai đùi lại, là ở trong ngứa râm ran.

7 – Bảy, lắc sang bên cạnh là muốn vào sâu bên trái hay bên phải.

8 – Tám là nâng thân lên ép người ta, là rất thích đến tột cùng

9 – Chín, thân mình mềm nhẽo ra, là chi thể khoái.

10 – Mười, dịch trong âm hộ trơn là tinh đã nhỏ ra.

Thấy những dấu hiệu đó để biết người con gái đã khoái.

(Chú giải) Giao tiếp nam nữ, làm cho con gái đạt đến dấu hiệu ngũ vi, ngũ dục, thập động, mặt khóa hồn đãng phách, mới là cái khoái lạc của giao hợp tính dục thành công rực rỡ, cả đôi nam nữ đến được thiên đường đẹp đẽ diệu kỳ.

Hoàng Đế hỏi: Thế nào gọi là tứ chí?

Huyền Nữ nói:

– Dương vật không có sức sống mạnh mẽ, thì hòa khí không đến (bất chí).

– Sức sống không nhiều, thì cơ khí không đến.

– To mà không rắn, thì cốt khí không đến.

– Rắn mà không nóng, thì thần khí không đến.

(Ngọc kinh bất nỗ, hòa khí bất chí. Nỗ nhi bất đại, cơ khí bất chí. Đại nhi bất kiên, cốt khí bất chí. Kiên nhi bất nhiệt, thần khí bất chí).

– Cho nên có sinh khí thì tinh sáng sủa. (cố nỗ giả tinh chi minh)

– To thì tinh đóng lại. (đại giả chi quán)

– Cứng là cái cửa của tinh. (kiên giả tinh chi hộ)

– Nhiệt là cửa rộng của tinh. (nhiệt giả tinh chi môn)

Bốn khí đến mà hạn chế để giữ lấy đạo, mở máy mà không lung tung, mở tinh mà không cho chảy ra (Tứ khí chí nhi tiết chi di đạo, khai cơ bất vọng, khai tinh bất tiết hĩ).

Huyền Nữ kinh nói:

Hoàng Đế hỏi: Tốt đẹp thay! con gái có chín khí, làm thế nào để biết được?

Huyền Nữ trả lời: Xem xét để biết chín cái khí đó.

1 – Người con gái thở dài mà yết có nước bọt là phế khí về đến.

2 – Kêu ôi lên mà mút người ta là tâm khí về đến.

3 – Ôm mà giữ lâu lấy người ta là tỳ khí về đến.

4 – Cửa mình trơn ướt như ao nước là thận khí đã về đến.

5 – Ân cần gọi cho vào là cốt khí về đến.

6 – Chân quắp lấy người là cân khí về đến.

7 – Sờ mó chơi ở dương vật của con trai là huyết khí về đến.

8 – Giữ chơi ở vú của con trai là nhục khí về đến.

9 – Giao tiếp với nhau lâu dài, chơi đầy đủ mà cảm được cái ý đó, chín khí đều đến.

Có trường hợp không đến, thì mặt buồn rầu. Cho nên nếu không đến có thể làm mấy lần để chữa cái đó.

Tố Nữ kinh nói rằng:

Hoàng Đế nói: Cái chỗ nói “chín phép” ấy ta chưa được nghe về phép đó, muốn vì ta mà bày cho rõ ràng, để mở cái ý, cất vào nhà đá, làm theo cách thức đó.

Tố Nữ nói: Chín phép:

1. Một là: Long phiên (rồng quay ngược lại)

Bảo người con gái nằm ngửa hướng lên, nam nằm úp trên đó, mông dấu ở dưới giường, nữ vịn vào cửa mình đó, để nhận dương vật, đâm đúng vào hang đó, lắc động chậm chạp khắp một lượt, tám nông hai sâu, số tử qua số sinh lại, thế bụng mới cứng, nữ thì vui nhiều, cái thích đó mới dấy lên, đến mức tự đóng chắc lại, bách bệnh tiêu vong.

2. Hai là: Hổ bộ (con hổ bước đi)

Bảo người con gái làm như con nghê cúi, đuôi ngửa lên mà đầu gục cúi xuống, nam quỳ đằng sau, ôm lấy bụng, và nạp dương vật, thúc vào trong cho hết mức, phải làm cho sâu và khít vào, tiến thoái cùng từ từ thưa thớt, làm bốn lần số tám (tám nông hai sâu), độ mức đó tự được, cửa mình của nữ bế trướng lại, tinh dịch chảy tràn ra ngoài (nd – nước của nữ), xong thì nghỉ dừng, bách bệnh không phát, nam thịnh thêm.

3. Ba là: Viên bác (con vượn chạy)

Bảo người con gái nằm ngửa, nam gánh cái mông đó, đầu gối lại vòng lên qua ngực, đuôi và lưng đều nâng lên, bấy giờ mới cho dương vật vào trong, thúc cho đến xú thử (con chuột hôi), nữ lại lắc động, nước ra như mưa, nam ấn vào sâu, khí thế rất khỏe, nữ khoái mới dừng, trăm bệnh tự khỏi.

4. Bốn là: Thiền phụ (con ve bám)

Bảo người con gái nằm sấp, duỗi thẳng thân mình, nam nằm sấp đằng sau, cho dương vật vào trong sâu, nâng đuôi ít một, để mà gõ ở đó (xích châu: viên ngọc đỏ), làm sáu lần số chín (chín nông một sâu), nữ có nhiều nước chảy ra, ở trong cửa mình co động nhanh, ở ngoài thì mở giãn ra, nữ khoái mới dừng, chứng thất thương tự trừ.

5. Năm là: Quy đằng (con rùa bay lên)

Bảo người con gái nằm thẳng, gấp hai đầu gối co vào, nam mới đẩy vào, cái chân nữ lên đến vú, dương vật vào sâu, đâm vào con gái còn nhỏ (anh nữ), nông sâu phải có mức, làm cho đúng với trong đó, con gái mới cảm thấy vui, thân mình tự lắc mà nâng lên, nước chảy tràn ra, mới cho vào sâu nhất, nữ khoái mới dừng, làm mà không mất, tinh lực tăng gấp trăm lần.

6. Sáu là: Phượng tường (con phượng liệng)

Bảo người con gái nằm ngay ngắn, tự nâng chân lên, nam quỳ ở giữa hai đùi, hai chân đặt xuống giữ lấy chiếu, cho dương vật vào trong, đâm vào đến (côn thạch) đám đá nhiều hòn, dương vật rắn và nóng keo lôi ở trong, làm cho con gái động lên, làm ba lần số tám (tám nông hai sâu), đuôi co lên cùng thưa thớt, cửa mình con gái mở giãn ra, tự nôn ra nước dịch, nữ khoái mới dừng, trăm bệnh tiêu diệt.

7. Bảy là: Thỏ xuyết hào (con thỏ ăn lông)

Nam nằm ngay thẳng ngửa lên, duỗi thẳng hai chân, con gái cưỡi lên trên đó, đầu gối để sang hai bên, lưng và đầu con gái về hướng chân, đầu cúi xuống chiếm chiếu, dương vật cho vào trong, đâm đến cầm huyền, nữ khoái, nước dịch chảy ra như suối, mừng vui cùng thích, động cả đến thần hình, nữ khoái mới dừng, trăm bệnh không sinh.

8. Tám là: Ngư tiếp lân (cá tiếp vảy)

Nam nằm ngửa ngay ngắn, nữ cưỡi lên trên, hai đùi hướng về phía trước, đặt từ từ vào trong, hơi vào một ít lại dừng, mới chịu không sâu, như trẻ con ngậm vú, để cho riêng một mình nữ lắc, phải làm cho giữ được lâu, nữ mà khoái thì nam lùi, chữa mọi thứ kết tụ.

9. Chín là: Hạc giao cảnh (chim hạc giao cổ nhau)

Nam ngồi như ngồi giần (cơ tọa), nữ cưỡi lên đùi, tay ôm cổ nam, cho dương vật vào, đâm ở mạch xỉ (răng lúa mạch – tức là vào trong âm hộ hai thốn), phải làm cho trong đó đúng thế, nam ôm lấy đuôi nữ, giúp cho nâng lắc, nữ tự cảm khoái, nước dịch chảy tràn, nữ khoái mới thôi, thất thương tự khỏi.

Tố Nữ nói rằng: Âm dương có bảy cái tổn tám cái ích:

1. Ích thứ nhất là Cố tinh:

Bảo nữ nằm ngửa giang đùi ra, nam nằm nghiêng ở trong đó, đâm vào khe hai đùi, làm hai lần số chín (tức là hai lần từ một đến chín), hết số thì dừng.

Làm cho nam cố tinh lại.

Lại chữa con gái bị chứng chảy máu

Ngày làm hai lần, mười lăm ngày thì khỏi.

2. Ích thứ hai là An khí:

Bảo người con gái nằm ngay ngắn, gối cao, duỗi giang hai ống chân, nam quỳ ở giữa hai đùi mà đâm, làm số ba lần chín (tức là ba lần từ một đến chín), hết số thì dừng.

Làm cho khí trong người êm đều.

Lại chữa chứng cửa mình của con gái lạnh.

Ngày làm ba lần, hai mươi ngày thì khỏi.

3. Ích thứ ba là Lợi tạng:

Bảo người con gái nằm nghiêng, gập hai mông, nam nằm ngang, đâm quay trở lại (khước thúc), làm bốn lần số chín (bốn lần từ một đến chín), số xong thì dừng.

Làm cho khí trong người êm đều.

Ngày làm bốn lần, hai mươi ngày thì khỏi.

4. Ích thứ tư là Cứng xương:

Bảo người con gái nằm nghiêng, gập đầu gối chân trái, duỗi ống chân phải, nam gập cúi xuống mà đâm, làm năm lần chín số, xong số thì thôi.

Làm cho các khớp trong người điều hòa.

Lại trị con gái bế huyết.

Ngày làm năm lần, mười ngày thì khỏi.

5. Ích thứ năm là Điều mạch:

Bảo người con gái nằm nghiêng, gập đầu gối bên phải, duỗi ống chân bên trái, nam chiếm chiếu mà đâm, làm sáu lần chín số, xong số thì dừng.

Làm cho huyết mạch trong người thông lợi.

Lại chữa chứng cửa mình người con gái rộng ra.

Ngày làm sáu lần, hai mươi lần thì khỏi.

6. Ích thứ sáu là Nuôi huyết:

Nam nằm ngửa ngay thẳng, bảo người con gái đội xương đuôi quỳ lên trên, nạp hết mức vào, bảo người nữ làm bảy lần số chín, xong số thì dừng.

Làm cho người ta có sức mạnh.

Lại chữa con gái kinh nguyệt không lợi, ngày làm bảy lần, mười ngày thì khỏi.

7. Ích thứ bảy là ích dịch:

Bảo người con gái nằm sấp nâng phía sau lên, nam ở trên, làm tám lần số chín, xong số thì dừng.

Làm cho xương được lấp thêm những chỗ còn thiếu.

8. Ích thứ tám là Đạo thể:

Bảo người con gái nằm ngay thẳng, gập hai ống chân, bàn chân ép ở dưới xương đuôi, nam để ống chân ở bên sườn mà đâm vào, để làm chín lần số chín, số xong thì dừng.

Làm cho xương người ta đầy đủ (thực).

Lại chữa cửa mình nữ hôi.

Ngày làm chín lần, chín ngày thì khỏi.

Tố Nữ viết:

1. Tổn thứ nhất gọi là Tuyệt khí:

Tuyệt khí là tâm ý không muốn mà dùng mạnh mẽ, thì ra mồ hôi mà ít hơi, làm cho tim nóng mắt hoa lên.

Cách chữa:

Bảo người con gái nằm ngay ngắn, nam ấp lên đùi đó ấn sâu vào, bảo người con gái tự lắc, nước tinh của con gái ra thì dừng. Nam không dược sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

2. Tổn thứ hai gọi là Dật tinh:

Dật tinh là tâm ý tham chịu, âm dương chưa hòa mà dùng, tinh ở giữa đường tràn ra, lại đang no say mà giao tiếp, thở xuyễn khí loạn mà hại phế, làm cho người ta ho ngược lên, khí lên mà tiêu khát, hay cáu giận hoặc buồn thảm, miệng khô mình nóng mà không đứng được lâu.

Cách chữa:

Bảo người con gái nằm ngay thẳng, gập hai gối kẹp người nam lại, nam đâm nông, dương vật ở trong một thốn rưỡi, bảo người con gái tự lắc, nước tinh của người con gái ra thì dừng. Nam không được sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

3. Tổn thứ ba gọi là Tập mạch:

Tập mạch là dương vật không cứng mà lại dùng rất mạnh, giữa đường tràn tinh ra mạnh, tinh khí kiệt, và ăn no mà giao tiếp, hại tỳ, làm cho người ta ăn vào không hóa, dương vật teo mềm mà không có tinh.

Cách chữa:

Bảo người con gái nằm ngay ngắn, lấy gót chân quắp lấy nam, ở xương đuôi, nam thì chống xuống chiếu mà nạp vào, bảo người nữ tự lắc, nước tinh của nữ ra thì dừng. Nam không được sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

4. Tổn thứ tư là Khí tiết:

Khí tiết là làm mệt mỏi mà mồ hôi ra chưa khô đã giao tiếp, làm cho người ta bị chứng bụng nóng môi khô.

Cách chữa:

Bảo người con trai nằm ngay ngắn, nữ cưỡi lên trên, người nữ hướng về phía chân chống xuống chiếu, nạp dương vật vào nông, bảo người nữ tự lắc, nước tinh của nữ ra thì dừng. Nam không được sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

5. Tổn thứ năm là Cơ quan khuyết thương:

Cơ quan khuyết thương là vừa mới đại tiểu tiện, thân thể chưa định mà đã dùng mạnh mẽ, tức là hại gan và chết ngất (bạo tệ), bệnh lâu ngày gặp nhau (trì tật giao hội), tạo cơ hội mỏi mòn (bất lý lao bì) gân cốt, làm cho người ta mờ mắt, và lại mọc mụn nhọt, làm khô tuyệt số lớn đám mạch, lâu dài thì sinh ra khô một bên người, dương vật mềm yếu không cứng lên được.

Cách chữa:

Bảo người nam nằm ngay ngắn, nữ cưỡi lên đùi, ngồi xổm hướng về phía trước từ từ ấn nạp vào, không cho người nữ tự lắc, khi nước tinh của người nữ ra (thì dừng?). Người nam không được sướng

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

6. Tổn thứ sáu gọi là Bách bế:

Bách bế là người con gái dâm dật, tự dùng mà không biết hạn chế, giao tiếp rải rác không có điều độ, khô mất tinh khí, dùng sức mà làm mạnh mẽ, tinh hết mà không ra, trăm bệnh cùng sinh ra, miệng khát mắt hoa.

Cách chữa:

Bảo người nam nằm ngay ngắn, người con gái cưỡi lên trên, gấp sấp chống xuống chiếu về phía trước, bảo người con gái nạp dương vật vào rồi cùng lắc, nước tinh người con gái chảy ra thì dừng, người con trai không được sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

7. Tổn thứ bảy gọi là Huyết kiệt:

Huyết kiệt là sức làm nhanh gấp, mệt bởi ra mồ hôi, bởi giao hợp, lúc xong lại đều nằm ngửa, đẩy sâu không có gốc (thôi thâm mỗi bản?), làm nhanh mạnh dữ dội, bệnh bởi đó mà phát, làm liền liền không dừng, huyết khô khí kiệt, làm cho da dẻ người ta nhăn nheo, dương vật đau thấp, tinh bị làm huyết (nước tinh ra như máu).

Cách chữa:

Bảo người con gái nằm ngay thẳng, lấy cái gối kê cao ở xương đuôi, duỗi giạng hai đùi, nam quỳ ở giữa đó đâm sâu vào, bảo người nữ tự lắc, nước tinh nữ ra thì dừng, nam không được sướng.

Ngày làm chín lần, mười ngày thì khỏi.

(Chú giải) Trong các thứ dáng vẻ con gái nằm ngửa, nam nằm sấp lên trên, nữ ôm lấy nam, để gót chân đặt vào kheo sau đầu gối nam, nam lấy tay và đầu gối đỡ sức nặng thân thể của mình, làm cho người con gái không phải chịu sức nặng thân thể của người con trai đè xuống, hai đùi con gái có thể tự do lắc động, trên tống xuống, dưới đón lên, hoặc đặt sang bên trái, xát sang bên phải, hoặc xoay chuyển về phía trước phía sau, cảm giác sướng không kể xiết. Nếu như sức nặng của người con trai ép đè lên người con gái, chân làm cho phạm vi hoạt động hai phía bị thu hẹp lại, giảm bớt khoái cảm. Các cách giao tiếp kể trên so với các loại dáng vẻ giao tiếp trong quyển Động Huyền Tử (xem phía sau) đều đúng, nhưng có bị bó buộc vì coi trọng lễ giáo của người con gái ngày xưa, phản đối người chồng đó dùng thử, đến nỗi không cảm thấy hứng thú của giao tiếp, điều đó đáng tiếc lắm. Rất nhiều đôi trai gái cưới nhau đã lâu ngày, thậm chí suốt đời không dám liếc nhìn trộm cho thấy rõ, so sánh với giao tiếp hai giới khác càng thấy có giá trị của tiếp xúc và khoái lạc, lỗi ở chỗ không biết đổi mới cách thức giao tiếp.

Thái Nữ hỏi rằng: Giao tiếp lấy chảy tinh ra làm thích, nay bế mà không cho chảy ra, làm thế nào mà thấy thích sướng?.

Bành Tổ đáp rằng: Tinh xuất thì thân thể mệt mỏi, tai kêu ù ù, mắt mỏi muốn ngủ, hầu họng khô khan, các khớp xương như rời ra, tuy có đem lại cái khoái tạm thời, nhưng rốt cuộc lại không vui. Nếu như động mà không cho chảy ra, khí lực có thừa, thân thể nhanh nhẹ, tai tinh mắt sáng, tuy tự giữ ngưỡng tĩnh, ý yêu càng nặng, mãi mãi như không có bắt đầu, sao lại bảo là không vui!

Hoàng Đế nói rằng: Muốn hỏi động mà không cho chảy ra (bất thí), học cái đó như thế nào?

Tố Nữ nói rằng:

1. Một là động mà không cho chảy ra, thì khí lực mạnh.

2. Động lần thứ hai mà không cho chảy ra thì tai tinh mắt sáng.

3. Động lần thứ ba mà không cho chảy ra thì mọi thứ bệnh tiêu trừ.

4. Động lần thứ tư mà không cho chảy ra, thì năm thần hoặc được yên.

5. Động lần thứ năm mà không cho chảy ra, thì huyết mạch được đầy đủ và lớn.

6. Động lần thứ sáu mà không cho chảy ra, thì lưng dưới lưng trên rắn cứng.

7. Động lần thứ bảy mà không cho chảy ra, thì xương đuôi và mông thêm sức.

8. Động lần thứ tám mà không cho chảy ra, thì thân thể sinh ra ánh sáng.

9. Động lần thứ chín mà không cho chảy ra, thì mạng sống lâu chưa tới điểm giữa.

10. Động lần thứ mười mà không cho chảy ra, thì thông với thần minh.

(Chú giải) Giao tiếp tự bế không cho chảy tinh ra, hoặc động mà không chảy ra, là khắp cả trùm lên phương diện tâm lý và tinh thần, nhục thể chỉ chiếm vài ba phần, khi giao tiếp mà không cho tinh chảy ra. Nếu như thường làm được như thế, thì không tổn thể lực, và có thể hưởng thụ được cái khoái lạc tối cao trên tinh thần. Giao tiếp loại đó, cùng giúp dựa thân quen nhau, cùng nhau giúp ôm lôi, nghìn chiều trăm nịnh, vạn kiểu thân ái, phóng lãng không gò bó, mi mắt chuyền tình, chạm môi mút lưỡi, vuốt ve khắp người, từ tóc tơ, cổ phấn, tay ngọc, mỏm vú, lưng liễu, đùi như bột, mông mỡ, rồi tuột xuống âm hộ, âm đạo. Lúc đó toàn thân người con gái mềm nhũn ra, người con trai như ngây dại say sưa, hai thứ dương vật và cửa mình giãn trương cứng nóng, nước của con gái chảy ra ròng ròng, tràn khắp vùng xuân, ở đầu quy của con trai tất là ra dịch của tuyến nhiếp hộ, như dãi, như giọt nước, sau đấy dương vật và âm hộ tự nhiên giao hợp, cùng tụ về một nơi, rút ra tống vào mài xát, chầm chậm ra vào, cần làm cho đạt đến đỉnh điểm mà ra tinh (nước của nữ), có thể lâu dài đến không kể thời gian nào.

Nếu như có kinh nghiệm giao hợp mà khống chế loại đó, không kể là giao hợp mấy nghìn lần thứ, cũng có thể không để cho tinh chảy ra. Tốt nhất là mỗi đêm khi đi ngủ có thể giao hợp một số phút, hoặc kéo dài tới một vài giờ, lâu đến khi ngọc quỵ mới mệt mỏi mà ngừng động cọ, dương vật và âm hộ có thể thấy cùng chụm ở một chỗ, chìm vào trong cảnh mộng, âm hộ ngậm bọc lấy dương vật, mãi đến khi vào giấc ngủ, dương vật tự nhiên do trơn mà tuột ra khỏi âm hộ, vùng âm của cả hai cũng tự nhiên mà nghỉ dừng, đó mới là một đêm vợ chồng đi đến cảnh đẹp. Có người cho rằng những người tình mong gặp được cách hay nhất. Nếu như sáng sớm trước khi dậy khỏi giường, cũng theo cách như thế, giao tiếp mươi phút hoặc hai mươi phút, phải làm lúc còn sớm, mới làm cho một ngày được sảng khoái tinh thần.

Hoàng Đế hỏi: Đạo cần không muốn cho xuất tinh, nêu cao ý yêu quý dịch, thế thì khi muốn cầu con, làm thế nào mà không thể cho chảy ra?

Tố Nữ nói rằng: Người ta có mạnh và yếu, tuổi có trẻ và già, tất cả đều tùy ở khí lực, không muốn sướng mạnh, sướng mạnh thì có chỗ hại của nó.

Cho nên con trai mười phần, to lớn thì có thể một ngày làm hết sức của mình, gầy yếu thì có thể ngày làm một lần.

Tuổi hai mươi, thịnh thì ngày làm hai lần, gầy yếu thì có thể ngày làm một lần.

Tuổi ba mươi, thịnh thì có thể ngày làm một lần, hèn kém thì hai ngày làm một lần.

Tuổi bốn mươi, thịnh thì ba ngày làm một lần, hư thì bốn ngày làm một lần.

Tuổi năm mươi, thịnh thì năm ngày làm một lần, hư thì mười ngày làm một lần.

Tuổi sáu mươi, thịnh thì mười ngày làm một lần, hư thì hai mươi ngày làm một lần.

Tuổi bảy mươi, thịnh thì có thể ba mươi ngày làm một lần, hư thì không cho chảy ra

(chữ làm một lần trong các câu trên là làm cho chảy tinh ra để có con – nd).

Phép của Tố Nữ:

Người ta ở tuổi hai mươi, bốn ngày một lần tiết tinh.

Tuổi ba mươi, tám ngày một lần tiết tinh.

Tuổi bốn mươi, mười sáu ngày một lần tiết tinh.

Tuổi năm mươi, hai mươi mốt ngày một lần tiết tinh.

Tuổi sáu mươi, xong rồi, bế tinh không cho chảy ra nữa. Nếu như thể lực còn như tuổi trẻ, thì một tháng một lần cho tiết tinh ra. Phàm khí lực của người ta, tự nghĩ thấy có sự to khỏe hơn người, cũng không thể nhịn mãi được, để lâu dài mà không cho tiết ra, để đến nỗi mọc ra mụn nhọt. Nếu như tuổi đã quá sáu mươi, mà cứ một số tuần không được giao tiếp, trong ý thấy bình bình, có thể bế tinh không cho tiết.

Thái Nữ hỏi: Nam thịnh suy, dấu hiệu của nó như thế nào?

Bành Tổ trả lời rằng:

Dương thịnh đắc khí thì dương vật phải nóng, dương tinh đậm đặc mà ngưng.

Cái sự suy có năm điều:

1. Một là tinh tiết mà ra, thì khí bị hại.

2. Hai là tinh trong mà ít, cái đó là thịt bị hại.

3. Ba là tinh xanh mà hôi, đó là gân bị hại.

4. Bốn là tinh ra mà không bắn vọt ra, đó là xương bị hại.

5. Năm là dương vật mềm không dấy lên được, đó là thân xác bị hại.

Phàm đám tổn hại đó đều do không từ từ khi giao tiếp, mà đột nhiên làm thô bạo cho chảy tinh ra.

Cách chữa: Chẳng qua chỉ là ngự mà không cho chảy tinh ra, không quá một trăm ngày tất khí lực lại tăng lên gấp trăm lần.

Hoàng Đế nói rằng: Người ta khi mới sinh ra, vốn là ở thai hợp âm dương, khi thai hợp âm dương tất phải tránh chín cái nguy hại (ương), chín cái nguy hại đó là:

1. Đứa con thụ tinh giữa ngày, sinh ra thì hay nôn mửa, đó là một.

2. Đứa con thụ tinh nửa đêm, thiên địa bế tắc, không câm điếc thì mù, đó là hai.

3. Đứa con thụ tinh ngày nhật thực, thân xác khi bị đâm thì hủy hại (hoại tử), đó là ba.

4. Đứa con thụ tinh khi có sấm sét, trời giận dữ nổi oai lên, tất dễ bị cuồng, đó là bốn.

5. Đứa con thụ tinh ngày nguyệt thực, cả mẹ và con đều gặp hung, đó là năm.

6. Đứa con thụ tinh lúc có cầu vồng (hồng hoàng ??), sẽ làm việc chẳng lành, đó là sáu.

7. Đứa con thụ tinh ngày đông chí, hạ chí, sống làm hại cha mẹ, đó là bảy.

8. Đứa con thụ tinh ngày huyền vọng, tất sẽ làm loạn binh gió mù (tất vi loạn binh phong manh), đó là tám.

9. Đứa con thụ tinh lúc no say, tất làm bệnh hủi nhọt (lại thư), trĩ có mụn, đó là chín.

(chữ thụ tinh ở các đoạn trên là lúc giao hợp mà thành thai).

(Chú giải) Khi tâm lý sợ hãi thì sẽ thụ tinh ra con nhiều hư nhược. Giao hợp man rợ mà làm thành đứa con tính mãnh liệt mà giảo hoạt, bởi vì khi giao hợp xuân tình mãnh liệt cho nên thế. Khi sự nghiệp thất bại mà thụ tinh con thường cứng rắn lẫn lộn với giảo hoạt. Khi say rượu mà thụ tinh con thường hay điên cuồng. Khi lương tâm bị hỏng mất (bại hoại), thụ tinh con thường có tính ác. Khi mắc bệnh hủi thụ tinh con thường bị điên. Khi mắc bệnh hoa liễu ác hóa thụ tinh con thường có bệnh hoa liễu. Khi ý dâm với nét mặt người đàn bà nào đó thì khi thụ tinh con có thể nét mặt giống như ý dâm đó. Khi giao tiếp để sinh con cái, phải biết như thế nào thì chuyền tính tốt, như thế nào thì chuyền tính ác, phải nên xem xét cẩn thận từng việc. Cho nên khi không tỉnh táo thì không thể giao tiếp được.

Tố Nữ nói: Phép cầu con, tự có sự bình thường của thân thể, bỏ sạch những mối lo xa, để yên quần, áo, ý nghĩ trống rỗng trai giới, để đàn bà hành kinh xong ba ngày, vào lúc sau nửa đêm, trước lúc gà gáy, vui đùa làm cho đàn bà động lên thật nhiều, mới đi theo, đúng đạo lý, cùng nhau đến khoái lạc, lùi thân lại mà cho chảy khí ra, lúc này đầu dương vật không quá mạch xỉ, nếu vào xa hơn thì qua cửa tử cung, không vào được trong cổ dạ con, nếu làm đúng như đạo vừa kể, sẽ có được con trai hiền tốt và thọ cao.

Tố Nữ nói: Người ta khi hợp âm dương, phải tránh những điều cấm kỵ, thường dư thừa sinh khí, không thể không sống lâu. Nếu cả cha và mẹ đều già quá, tuy sinh hóa vẫn có con trai, nhưng các con đó đều không sống lâu.

(Chú giải) Vợ chồng giao hợp, phải tránh cấm kỵ. Nếu vợ quá già, đẻ ra con trai cũng không sống lâu được, vì đứa con đó tiên thiên bất túc (khí huyết của cha mẹ không đủ).

Hoàng Đế nói rằng: Nhập tướng nữ nhân nói: Thế nào gọi là việc đó?

Tố Nữ nói rằng: Nhập tướng nữ nhân:

Tính trời uốn nắn thuận,

Hơi của tiếng nói mềm đi,

Tóc như tơ đen,

Thịt mềm xương nhỏ,

Không dài không ngắn (cao hoặc lùn),

Không to không nhỏ,

Vú ở chỗ cao,

Phía trên cửa mình không có lông,

Nhiều nước tinh,

Tuổi từ hai nhăm đến ba mươi trở lại,

Chưa sinh đẻ.

Khi giao tiếp nước tinh chảy thừa ra, thân thể lắc động, không thể tự định, mồ hôi ra bốn lần (ra rồi lại trốn mất), theo người ta mà nâng lên hoặc dừng, tuy người nam chẳng làm phép gì đó, được người như thế là tốt nhất mà không có tổn hại.

Những điều cấm kỵ:

Ngày hối sóc của tuần trăng (đầu cuối tháng trăng).

Ngày thượng huyền (ngày 7 và 8), hạ huyền (ngày 22 và 23), ngày vọng (rằm), sáu ngày bính, sáu ngày đinh, ngày nhật phá, ngày 28.

Ngày gió to, ngày mưa dữ, ngày động đất, ngày sấm sét chớp giật.

Các ngày tiết đại hàn, tiểu thử, xuân phân, thu phân, đông chí, hạ chí, trong vòng năm ngày tống nghinh.

Những điều cấm hành âm dương trong hành niên bản mệnh thì cái cấm đó càng phải coi làm trọng, sau ngày hạ chí mà vào Bính tý, Đinh sửu (nguồn dẫn điều đó dựa vào “Dưỡng nữ tập yếu” cuối câu là Bính ngọ, Đinh tỵ, hạ hữu pháp vân. Nay dựa vào “Ngọc phòng bí quyết” nói là Bính ngọ, Đinh mùi. Hoàng Đế vấn “Tố Nữ kinh” là Bính tý, Đinh sửu. Theo đó thì “Tố Nữ kinh” và “Dưỡng sinh tập” lời văn trong đó giống nhau, duy chỉ có cuối câu là khác nhau). Sau đông chí thì kiêng ngày Canh thân, Tân dậu.

Và vừa mới gội đầu, vừa mới đi xa, mệt mỏi, quá vui quá giận, đều không thể hợp âm dương.

Cho đến năm mà người đàn ông có suy kỵ không thể ngóng vào đó mà cho xuất tinh.

Tố Nữ luận rằng: Ngày mười sáu tháng năm là ngày trời đất đực cái. Không thể làm việc phòng sự, phạm vào việc đó không ngoài ba năm tất phải chết! Làm sao mà biết được như thế? Hãy lấy một xích (?: xích – thước cổ = 1/3 mét) vải mới, đêm hôm đó treo lên tường phía đông, sáng ngày hôm sau xem đó tất có màu máu, cho nên nhất thiết kiêng tránh đi !!!

Thái Nữ nói: Tại sao lại có bệnh quỷ giao?

Bành Tổ đáp: Do âm dương không giao, mà tình dục sâu nặng, thì quỷ mị giả làm hình ảnh mà giao thông, với lối giao thông đó, nó thắng người ta, chỗ đó lâu dài thì mê cảm, đã phạm phải lại giấu đi, không nói ra với mọi người, tự cho như thế là đẹp, cho nên đến khi chết cũng chỉ ở có một mình mà không biết.

Nếu bị bệnh như thế, thì cách chữa như sau: Bảo người con gái và người con trai giao nhau, mà nam không cho chảy tinh ra, cứ thế làm ngày làm đêm không nghỉ. Khó khăn lắm cũng không quá bảy ngày thì khỏi.

Nếu như thân thể mệt mỏi không thể ngự một mình được, thì ấn sâu vào mà không động cũng tốt.

Không chữa thì chết người không quá mấy năm.

Muốn nghiệm sự thực, đến giữa xuân giữa thu, vào trong một cái đầm lớn trong khe núi sâu, không có làm gì hết, hướng về phía xa hết tầm, ý nghĩ chỉ chứa giao hội âm dương, sau ba ngày ba đêm, thì thân thể hấp cái hàn nhiệt đó, tâm phiền mắt hoa, con trai nhìn thấy con gái, con gái nhìn thấy con trai, sẽ làm việc giao hợp âm dương, cái đẹp thắng người ta, tất nhiên bệnh khó chữa, cái khí oán nó trống rỗng, làm cho tà khí có chỗ lấn chiếm, đời sau tất phải có như thế.

Nếu như ở nơi người con gái nhà dòng dõi quý tộc, không được giao cùng với con trai, để trị được chứng đó phải lấy mấy lạng Thạch lưu hoàng, đốt để hun ở cửa mình người đàn bà đó, và cho uống sừng hươu tán nhỏ, đong thuốc bằng phương thốn chủy (chừng một phần ba thốn khối) thì khỏi, phải nhìn thấy quỷ chảy nước mắt nước mũi mà đi.

(Chú giải) Phương thốn chủy là một loại đồ dùng để đong thuốc bột thời xưa, nó giống như cái trâm cài tóc của đàn bà, nếu đem cái trâm cài tóc mà hót bột thuốc lên, vuông đúng một thốn, gọi đó là “phương thốn chủy”.

Lại có một phương nữa: Uống Lộc giác bằng phương thốn chủy, ngày ba lần, lấy khỏi làm mức.

Thái Nữ nói rằng: Việc giao tiếp, đã được nghe, giám hỏi ăn uống các thứ thuốc như thế nào cho có hiệu quả?

Bành Tổ đáp: Làm cho người đàn ông khỏe mãi không già, việc trong phòng không lao tổn, khí lực và nhan sắc không suy, đó là sừng hươu già.

Cách đó lấy sừng hươu cạo cho nhỏ mười lạng, nghiền chung với một củ bát giác phụ tử sống, uống bằng phương thốn chủy, ngày ba lần thì rất tốt (nhật tam đại lương).

Cũng có thể đun sừng hươu làm cho chín vàng, uống riêng nó thôi, cũng làm cho người ta sống lâu không già, nhưng sức của thuốc chậm không bằng dùng phụ tử, uống cái đó hai mươi ngày thì thấy công hiệu (đại giác).

Cũng có thể dùng lũng tây đầu Phục linh, chẻ ra giã nhỏ rồi rây lấy bột, uống bằng phương thốn chủy, ngày uống ba lần, làm cho người ta trường sinh, việc trong phòng (giao hợp) không bị suy.

Hoàng Đế hỏi Tố Nữ đáp lại rằng: Người con gái ở tuổi hăm tám, hăm chín, hoặc hăm ba, hăm bốn, âm khí thịnh, muốn được con trai, không thể tự kìm hãm được, ăn uống không biết ngon, trăm mạch ở thân người đều động, tim mạch thực, mồ hôi ra bẩn cả quần áo, trong cửa mình người con gái, có sâu như đuôi ngựa, dài ba phân, đầu đỏ thì bứt rứt (muộn), đầu đen thì có bọt.

Phương chữa cái đó: Dùng miến làm thành cái dương vật, dài ngắn to nhỏ thì tùy ý, lấy tương và quả bông kết hai thứ lại, nạp vào trong cửa mình, thì trùng làm cho ra lại, ra thì lại cho vào, như là được chồng, trùng đó nhiều thì có ba chục con, ít thì chừng hai chục.

Hết Tố Nữ kinh

Tiếp theo sẽ là Tố Nữ phương

TỐ NỮ PHƯƠNG

(Tố Nữ kinh “Tứ quý bổ ích phương – Phương bổ ích bốn mùa” bảy điều dựa vào Đường Vương Đạo “Ngoại đài bí yếu phương” quyển thứ 17, trích ra từ đó)

Hoàng Đế hỏi Tố Nữ: Đàn ông thụ khí, âm dương đều bằng nhau. Khi đàn ông hành dương, thường bị bệnh ở tai và mắt trước, gốc đó là tốt, mà liệt dương không dấy cứng lên được, khí lực suy nhược, không khỏe mạnh, giám hỏi con đường chữa cái đó?

Tố Nữ đáp: Cái mà Đế hỏi, mọi người cũng có như thế, âm dương làm thành thân người, tất cả đều do đàn bà, chết non tổn thọ, nam tính phải vận dụng hạn chế. Cho nên không thể chuyên tâm ham nữ sắc, phạm cái đó thì kiệt sức, tình đó thất thương, không thể không suy nghĩ, thường phải xem xét cẩn thận, đó là đạo trường sinh vậy. Bệnh đó đã làm, nên lấy thuốc để chữa. Nay phạm gọi là thất thương:

Thứ nhất là kỵ ngày hối sóc của tháng (đầu và cuối tháng), thượng huyền, hạ huyền, ngày vọng (rằm), sáu ngày Đinh, để hợp âm dương (tức là giao hợp), hại cái tinh của con, làm cho người ta gặp địch mà không đánh được, có lúc một mình thì lại dấy cứng lên, nước tiểu đỏ vàng, tinh trống rỗng tự ra, hoặc chết.

Thứ hai là kỵ khi sấm chớp gió mưa, âm dương mờ mịt, chấn động trời đất, mặt trời mặt trăng không sáng, lấy để giao hợp âm dương, sinh ra con cuồng hủi, hoặc có điếc mù, câm ngọng thất thần, phủ thường nhầm lẫn lung tung, tâm ý không yên, tự nhiên vui sợ không thường, nằm mê việc buồn không vui.

Thứ ba là kỵ khi vừa mới ăn no, sức của lúa gạo (cốc lực) chưa hành, trong dạ dày đầy căng, ngũ tạng đang đợi hưởng, lúc này đã hợp âm dương, sáu thứ vừa mới tổn thương (lục tân tổn thương), nước tiểu phải đỏ, hoặc trắng hoặc vàng, thắt lưng và cột sống đau đớn, đầu và cổ truyền nhau cứng ra, hoặc thân thể phù thũng, bụng trên chướng đầy, hủy hình chết non, đó thường là con đường chết non.

Thứ tư là kỵ vừa mới tiểu tiện tinh khí nhỏ yếu, vinh khí không chắc, vệ khí chưa tản ra, lúc này đã hợp âm dương, làm cho người ta hư phiếm, âm dương bế tắc, tuyệt đường ăn uống vì không biết ngon, bụng chướng đầy kết, ức (? ức: ngực, nỗi lòng) không yên, nhầm lẫn lung tung hoặc vui giận thất thường, giống như lên cơn điên.

Thứ năm là kỵ vừa mới đi bộ và làm công việc nặng nhọc, thân thể mệt, vinh khí không định, vệ khí chưa tản ra, đã hợp âm dương, tạng khí cùng khô, làm cho khí trong người phiếm (chạy lung tung), thở hít khó khăn, môi miệng khô khan, thân thể ra mồ hôi, thức ăn chất bột không tiêu hóa (cốc bất tiêu hóa), bụng trên đầy chướng, đau buốt trăm nơi, nằm ngồi không yên.

Thứ sáu là kỵ vừa mới tắm gội xong, đầu thân và tóc còn ẩm, làm việc nâng vác nặng, mồ hôi ra như mưa, đã hợp âm dương, tất gió lạnh làm hại, bụng dưới đau cấp, thắt lưng và cột sống đau cứng, tứ chi đau buốt, ngũ tạng chờ hưởng, công lên đầu hoặc sinh ra lậu lịch (ra máu nhỏ giọt dầm dề).

Thứ bảy là kỵ không nói chuyện với con gái, dương vật cứng nhiều, đang lúc đó đã hợp âm dương, không nghĩ đến giữ lễ, khí cấp làm cho thấy trong dương vật đau hại, ngoài thì rung động cơ thể, trong thì tổn hại tạng phủ, kết tóc tắc tai, mắt nhìn mờ mờ, trong tim sợ hãi, phảng phất mừng không đâu, như cành cây giã ở trong ngực cách, ho ngược khí lên, trong thì tuyệt, thương ở trung, nữ tuyệt mềm yếu, thân thể không giữ.

Phạm vào một thiên đó, hình chứng đã rõ ràng, sống yểu thần lạc, chữa cái đó có bài thuốc.

Hoàng Đế hỏi Cao Dương Phụ rằng: Tôi biết Tố Nữ, biết rõ kinh mạch tạng phủ trống rỗng hay đầy đủ, đàn ông có ngũ lao thất thương, đàn bà có âm dương cách bế, ra khí hư trắng đỏ, hoặc tuyệt sản không có con, đàn ông thụ khí âm dương giống như nhau, duyên do của bệnh đó do đâu mà có? Cho nên muốn hỏi, mời nói hết cho.

Đáp rằng: “Câu hỏi thật là sâu sắc thay! Đàn ông có ngũ lao lục cực thất thương, bệnh đều có nguồn gốc bởi gì đó, và hình trạng của nó”.

Đế nói rằng: “Tốt thay! Bệnh thất thương, mừng vui muốn ông nói tất cả”.

Đáp rằng:

1    – Một là âm hãn (vùng dương vật và túi dái có mồ hôi).

2    – Hai là âm suy.

3    – Ba là tinh trong.

4    – Bốn là tinh ít.

5    – Năm là phía dưới vùng âm ẩm ngứa.

6    – Sáu là tiểu tiện nhiều lần mà ít.

7    – Bảy là dương vật mềm teo, hành sự không như ý mong muốn.

Bệnh hình là như thế, gọi đó là thất thương.

Hoàng Đế nói: “Thất thương là như thế, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đó như thế nào?”.

Đáp rằng: Có thần dược cho bốn mùa tên là Phục linh, xuân thu đông hạ, chữa theo bệnh hình, lạnh thì thêm thuốc nóng, ôn thì lấy mát kiêm, phong thì gia phong dược, theo sắc và mạch khi chẩn mà bình bàn, theo bệnh mà gia thuốc, tất như kinh này.

Ba tháng mùa xuân nên lấy Cánh sinh hoàn (Cánh sinh là Phục linh), chữa đàn ông ngũ lao thất thương, dương suy mất đi còn nhỏ, dưới túi dái mọc mụn, lưng dưới lưng trên đau đớn, không ngửa cúi được, hai bánh chè đầu gối khi lạnh khi nóng mà ngứa, hoặc có lúc phù thũng, khó bước đi, mắt gặp gió thì chảy lệ, nhìn xa mờ mờ, ho ngược khí lên, mình mẩy vàng vọt, chung quanh rốn căng co, đau dẫn tới bàng quang, tiểu tiện ra máu, dương vật đau tổn hại, có khi có đái rơi rớt mà buốt, mồ hôi làm cho áo đỏ hoặc vàng, hoặc làm mê sợ hãi, miệng khô lưỡi cứng, khát muốn uống nước, ăn được không như thường, hoặc khí lực không đủ, từng lúc từng lúc khí ngược lên, ngồi phạm bảy điều kỵ, đã thành lao thương, bài thuốc đây trị bệnh đó rất nghiệm.

1. Phục linh 3 phân. Nếu không tiêu thức ăn, thêm 1 phần 3 số đó.

2. Xương bồ 4 phân. Nếu tai điếc, thêm 1 phân.

3. Sơn thù du 4 phân. Nếu thân ngứa, thêm 1 phần 3 số đó.

4. Khô lâu căn 4 phân. Nếu nóng khát, thêm 1 phân.

5. Thỏ ti tử 4 phân. Nếu mềm mà ngứa, thêm một nửa số đó.

6. Ngưu tất 4 phân. Nếu cơ quan bất lợi, tăng thêm gấp đôi số đó.

7. Xích thạch chi 4 phân. Nếu nội thương thêm 1 phần 3 số đó.

8. Can địa hoàng 7 phân. Nếu phiền nhiệt, thêm 1 phần 3 số đó.

9. Tế tân 4 phân. Nếu mắt mờ, thêm 1 phần 3 số đó.

10. Phòng phong 4 phân. Nếu phong tà, thêm 1 phần 3 số đó.

11. Thự dự 4 phân. Nếu âm ẩm ngứa, thêm 1 phần 3 số đó.

12. Tục đoạn 4 phân. Nếu có trĩ, tăng gấp đôi số đó.

13. Sà sàng tử 4 phân. Nếu ít hơi, thêm 1 phần 3 số đó.

14. Bá thực 4 phân. Nếu ít sức, tăng gấp đôi số đó.

15. Ba kích thiên 4 phân. Nếu mềm yếu, thêm 1 phần 3 số đó.

16. Thiên hùng 4 phân, bào Nếu có phong, thêm 1 phần 3 số đó.

17. Viễn chí bì 4 phân. Nếu sợ hãi không yên, thêm 1 phần 3 số đó.

18. Thạch hộc 4 phân. Nếu mình đau, tăng gấp đôi số đó.

19. Đỗ trọng 4 phân. Nếu tuyệt dương đau thắt lưng, thêm 1 phần 3 số đó.

20. Thung dung 4 phân. Nếu mình đau, tăng gấp đôi số đó.

Có hai mươi vị, giã rây, trộn mật làm viên, như hạt ngô đồng, trước khi ăn thì uống ba viên, ngày ba lần, sức tăng dần không biết, lấy đến khi biết làm mức, cũng có thể tán uống bột, lấy nước trong của cháo uống bằng phương thốn chủy, bảy ngày thì biết, mười ngày thì khỏi, ba mươi ngày thì dư, khí bình, uống lâu dài thì già cũng trẻ lại, kiêng thịt dê, thịt lợn, và ruột của nó, kiêng nước lạnh và kiêng thù du, su hào, cỏ tranh sống.

Hoàng Đế lại hỏi rằng: Ba tháng mùa hạ lấy bài thuốc nào? Mừng vui muốn ông nói tất cả.

Đáp rằng: Nên lấy bài “Bổ thận Phục linh hoàn” để chữa đàn ông nội hư, không ăn uống được, đột ngột hay quên, buồn rầu không vui, hận giận không thường, hoặc thân thể phù thũng, nước tiểu đỏ vàng, tinh chảy ra dầm dề, đau cắn ở bàng quang, não đau lạnh bại, duỗi thẳng ra mà không đi được, khát muốn uống nước, bụng trên chướng đầy, đều phạm vào bảy điều kỵ đã nghi ở trên, phải có cách chữa cái đó, tùy mức độ của bệnh, dùng phương như sau:

1 – Phục linh 3 lạng. Nếu ăn không tiêu tăng gấp đôi.

2 – Phụ tử 2 lạng, bào. Nếu có phong, tăng 1 phần 3 số đó.

3 – Sơn thù du 3 lạng. Nếu mình ngứa, tăng 1 phần 3 số đó.

4 – Đỗ trọng 2 lạng. Nếu đau lưng, tăng 1 phần 3 số đó.

5 – Mẫu đơn 2 lạng. Nếu trong bụng có hơi di động, thêm 1 phần 3 số đó.

6 – Trạch tả 3 lạng. Nếu có thủy khí, thêm 1 phần 3.

7 – Thự dự 3 lạng. Nếu có đầu phong, tăng gấp đôi số đó.

8 – Quế tâm 6 lạng. Nếu nhan sắc không đủ, thêm 1 phần 3 số đó.

9 – Tế tân 3 lạng. Nếu mắt nhìn mờ mờ, thêm 1 phần 3 số đó.

10 – Thạch hộc 2 lạng. Nếu âm ẩm ngứa, thêm 1 phần 3 số đó.

11 – Thung dung 3 lạng. Nếu thân mềm yếu, thêm 1 phần 3 số đó.

12 – Hoàng kỳ 3 lạng. Nếu đau mình, thêm 1 phần 4 số đó.

Có mười hai vị, giã nhỏ, rây, trộn mật làm viên, to như hạt ngô đồng, trước khi ăn uống bảy viên, ngày uống hai lần, kiêng các thứ hành sống, rau sống, thịt lợn, nước lạnh, đánh chén cạn bầu.

Hoàng Đế lại hỏi rằng: Cách chữa mùa xuân hạ, đã nghe và nghiệm thấy tốt, vậy ba tháng mùa thu lấy bài thuốc nào?”.

Đáp rằng: Nên lấy “Bổ thận Phục linh hoàn”, chữa con trai thận hư lạnh (nói gọn ở dưới), phương dùng như sau:

1 – Phục linh 3 lạng.

2 – Phòng phong 2 lạng.

3 – Quế tâm 2 lạng.

4 – Bạch truật 2 lạng.

5 – Tế tân 2 lạng.

6 – Sơn thù nhục 2 lạng.

7 – Thự dự 2 lạng

8 – Trạch tả 2 lạng.

9 – Phụ tử 2 lạng (bào).

10 – Can địa hoàng 2 lạng.

11 – Tử uyển 2 lạng.

12 – Ngưu tất 3 lạng.

13 – Thược dược 2 lạng.

14 – Đan sâm 2 lạng.

15 – Hoàng kỳ 2 lạng.

16 – Sa sâm 2 lạng.

17 – Thung dung 2 lạng.

18 – Can khương 2 lạng.

19 – Huyền sâm 2 lạng.

20 – Nhân sâm 2 lạng.

21 – Khổ sâm 2 lạng.

22 – Độc hoạt 2 lạng.

Có hai mươi hai vị, giã, rây, trộn mật làm viên, to như hạt ngô đồng, trước bữa ăn uống năm viên, gặp khi thì lấy rượu uống xuống, kỵ đánh chén các thứ hành sống, đào, mận, thịt chim sẻ, rau sống, thịt lợn, su hào, cỏ tranh.

Hoàng Đế lại hỏi: “Xuân, hạ, thu đều có phương hay, vậy ba tháng mùa đông lấy phương gì mà chữa?”.

Đáp rằng: Nên lấy “Thùy mệnh Phục linh hoàn”, chữa ngũ lao thất thương, hai mắt mờ mờ, gặp gió thì chảy nước mắt, vùng cổ cứng lạ, không thể xoay chuyển, bụng trên đầy, chi trên và ngực sườn lạnh, dẫn xuống đến thắt lưng, biểu lý đau đớn, không thể thở hít, ăn uống thì ho ngược lên, mặt và mắt vàng vọt, tiểu tiện buốt nhỏ giọt, tinh trong mà tự ra, dương vật mềm mà không dấy lên được. Khi gặp việc không đối được, ống chân buốt đau, hoặc ngũ tâm phiền nhiệt, thân thể phù thũng, mồ hôi trộm chảy ra, tứ chi co rung, hoặc hoãn hoặc cấp, nằm mộng sợ hãi, thở hít ngắn gấp, miệng khô lưỡi khan, giống như khát nước, thoắt vui lung tung, hoặc buồn rầu rên rỉ, thuốc đó chủ chữa chứng đó, bổ mọi thứ tuyệt, làm cho người ta béo trẻ khỏe về trí lực, ăn uống tăng gấp nhiều lần, trừ hết bách bệnh, phương như sau:

1 – Phục linh

2 – Bạch truật

3 – Trạch tả

4 – Mẫu lệ

5 – Quế tâm

6 – Mẫu lệ (ngào)

7 – Mạn kinh tử

8 – Thự dự

9 – Đỗ trọng

10 – Thiên hùng

11 – Nhân sâm

12 – Thạch trường sinh

13 – Phụ tử

14 – Can khương

15 – Thỏ ti tử

16 – Ba kích thiên

17 – Thung dung

18 – Sơn thù du

19 – Cam thảo (chích)

20 – Thiên môn đông (bỏ lõi)

Có hai mươi vị, mỗi vị hai lạng, giã, rây, lấy mật trộn làm viên, to như hạt ngô đồng, uống trước khi ăn năm viên, uống với rượu đều được, kiêng các loại rong biển, rau tùng, cá chép, hành sống, thịt lợn, chuốc rượu.

Hoàng Đế lại hỏi: “Thuốc theo bốn mùa, đều đã nghe đủ, thuốc đó bốn mùa uống thông nhau được không?”

Đáp rằng: Có thuốc tán dùng cho bốn mùa là “Phục linh tán”, không tránh hàn nhiệt, nhưng nếu uống nó lâu dài, có thể sống dài mãi mãi, già thêm trẻ lại. Phương dùng như sau:

1 – Phục linh

2 – Chung nhũ (nghiền)

3 – Vân mẫu phấn

4 – Thạch hộc

5 – Xương bồ

6 – Bá tử nhân

7 – Thỏ ti tử

8 – Tục đoạn

9 – Đỗ trọng

10 – Thiên môn đông (bỏ lõi)

11 – Ngưu tất

12 – Ngũ vị tử

13 – Trạch tả

14 – Viễn chí (bỏ lõi)

15 – Cam cúc hoa

16 – Sà sàng tử

17 – Thự dự

18 – Sơn thù du

19 – Thiên hùng (bào)

20 – Thạch vi (bỏ lông)

21 – Can địa hoàng

22 – Thung dung

Các vị bằng nhau.

Có hai mươi hai vị, giã rây làm tán, lấy rượu uống bằng phương thốn chủy, ngày uống hai lần, hai mươi ngày thì biết, uống trên trăm ngày, thể khí cứng khỏe, uống lâu dài đến tuổi tám mươi chín mươi, lại như trẻ nhỏ, kiêng chuốc rượu và các vật như thịt dê nấu, cá chép, thịt lợn, su hào, cỏ tranh.

Cao Dương phụ nói rằng: Phương trong kinh do thần tiên tạo ra, cái đó uống để Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ, đều đã bàn xong, như là chỗ đã nói, theo mở rộng ra, từ đó đến đây không bệnh không chữa, không sinh chẳng cầu. (Cùng lấy ra từ trong quyển thứ hai mươi lăm Cổ kim lục nghiệm)

Phục linh phương: (Từ đây trở xuống theo Thiên kim yếu phương, quyển thứ hai mươi mốt, phụ lục)

– Phục linh, (năm cân, nấu với nước than 10 lượt, nước tương 10 lượt, nước trong 10 lượt).

– Tùng chỉ,    (năm cân đun……, mỗi lần đun 40 lượt).

– Sinh Thiên môn đông, (năm cân, bỏ lõi, bỏ bì thật khô, tán bột).

– Ngưu tất,    (ba cân, luyện 30 lần)

– Bạch mật,    (ba cân, đun cho hết bọt).

– Thứ lạp    (ba cân, luyện 30 lượt).

Có sáu vị, tất cả đều giã, rây, lấy cái âu bằng đồng để trên nước sôi, trước hết cho tô thứ, thứ đến lạp, mật, cạn rồi cho thuốc, đảo nhanh không dừng, cốt làm cho thật đều, cho vào trong bình để dành, đậy kín không cho lọt hơi vào.

Trước hết một miệng không ăn, muốn không ăn trước hết cần ăn chất ngon sạch, làm cho cực no, sau đó tuyệt thực, tức uống 2 lạng, hai mươi ngày sau uống 4 lạng, lại hai mươi ngày sau uống 8 lạng, rõ ràng thứ tự lấy đến họng làm mức.

Đợt thứ hai, lần đầu lấy 4 lạng, hai mươi ngày sau 8 lạng, lại hai mươi ngày sau 2 lạng.

Đợt thứ ba, uống, lần đầu lấy 8 lạng, hai mươi ngày sau 2 lạng, hai mươi ngày sau 4 lạng, hợp lại 180, thuốc thành từ sau tập quán làm 3 viên, đem phụ không uống, cũng vẫn thường được lấy tô mật ngâm vào trong rượu ngon một thăng uống càng tốt.

Khi hợp thuốc cần chọn ngày vượng tướng của bốn mùa, đặc biệt kỵ những ngày hình, sát, yếm, và tứ kích mộc phế rất hung, đó là phép Bành Tổ.

Phục linh cao phương (Thiên Kim Dực gọi tên là Ngưng linh cao)

–    Phục linh (sạch, bỏ vỏ) – Tùng chỉ (24 cân).

–    Tùng tử nhân,    – Bá tử nhân (mỗi thứ 12 cân).

Có bốn vị đều theo đúng phép luyện; Tùng, bá nhân không luyện, mà giã, rây, mật trắng hai đấu bốn thăng, cho vào âu bằng đồng đun trên nước sôi, lửa nhỏ, đun 1 ngày 1 đêm, hôm sau bỏ thuốc xuống, quấy, khi được, đun nhỏ lửa 7 ngày 7 đêm thì dừng, viên như quả táo nhỏ, mỗi lần uống 7 viên, ngày uống 3 lần, muốn tuyệt cốc, ăn đến no là được, nhẹ mình, sáng mắt, không già, (sau phương đó, một bản có Phục linh, Thung dung, Tô hạnh, Địa hoàng Tô là ba phương, mọi bản đó đều không, lại Thiên Kim Dực đã có, nay lại không chép thêm).

NGỌC PHÒNG BÍ QUYẾT

Xung Hòa Tử nói rằng: “Một âm một dương đó là đạo, cấu tinh hóa sinh, đó là dụng, đó là cái lý sâu xa? Cho nên giữa mái hiên của xe vua, Tố Nữ bành khảnh đền ơn vua, có ngon tốt thay!”

Xung Hòa Tử nói rằng: “Dưỡng dương, ngươi không thể làm cho người con gái nhìn trộm thấy cái thuật đó (tức là nhìn trộm), không những dương vô ích mà đến tổn hại, đó gọi là lợi khí giả dối con người, thì vẫy tay áo không phải phân biệt”.

Bành Tổ nói rằng: “Con trai muốn được ích lớn, được người con gái không biết đạo là tốt, lại thường ngự đồng nữ, nhan sắc cũng đúng như đồng nữ, người con gái chưa phải làm lụng nhiều, nếu như được từ trên mười bốn mười năm, dưới mười tám mười chín (theo đúng lời văn chép là dưới mười bốn mười lăm và trên mười tám mười chín), lại rất ích dẹp, nhưng cao không quá ba mươi tuổi, tuy chưa quá ba mươi tuổi mà đã đẻ con, thì cái đó cũng không thể có ích. Tiên sư của ta tương truyền rằng đạo đó sống già đến ba nghìn năm, kèm có uống thuốc nữa có thể thành tiên.

Muốn hành âm dương theo đạo lấy khí dưỡng sinh, không thể lấy một người đàn bà làm việc đó, phải được ba, hoặc chín, hoặc 11, càng nhiều càng tốt, thu lượm lấy tinh dịch, trên con suối lớn tụ tinh, cơ da vui vẻ, nhẹ mình mắt sáng, khí lực cường thịnh, có thể nhiều địch nhân phải phục, người già mà như tuổi hai mươi, có khi như người ít tuổi, khí lực gấp trăm lần.

Ngự người con gái muốn một, động làm càn thay đổi người con gái, thay đổi người con gái thì trường sinh, nếu như làm cho lại chỉ ngự một người con gái, âm khí ít chuyển, làm cho ích cũng ít.

Đạo sĩ Thanh Ngưu nói rằng: Thay đổi mấy mấy người con gái thì ích nhiều, một đêm thay mười người trở lên là tốt nhất, thường ngự một người đàn bà, tinh của người đàn bà chuyển yếu, không thể thịnh nhiều, cũng làm cho đàn bà gầy mòn.

(Chú giải) Cách lấy âm bổ dương, có người sau khi giao tiếp với con gái, đem liếm hết tinh dịch mà ăn, không coi là bẩn, và có người đã lấy quả táo nam đặt vào trong cửa mình con gái, sáng sớm hôm sau lấy mà ăn cũng rất bổ.

Xung Hòa Tử nói: “Không những dương có thể dưỡng, âm cũng nên như thế. Tây Vương Mẫu dưỡng âm mà đắc đạo. Một lần giao với nam, mà nam bị tổn thành bệnh, nữ sắc mặt rạng rỡ, không phải phấn sáp thường ăn sữa say (nhũ tinh), mà dần huyền cầm, do đó tâm êm ái nối với ý, làm cho không còn ham muốn nào khác.

Vương Mẫu không có chồng, rất thích giao với con trai còn nhỏ, đây là chỗ mà không thể đem dạy cho đời, hà tất Vương Mẫu như thế.

Giao với con trai, phải an tâm định ý, như có con trai chưa lớn, cần phải khí đến mới thu được ít, tình chí phải tương ứng với nhau, đều không động lắc (chấn giao) nhảy vọt, làm cho âm tinh kiệt trước, nơi đó trống rỗng, dễ bị bệnh phong hàn. Hoặc nghe con trai giao tiếp với người đàn bà nào đó mà ghen ghét phiền muộn, âm khí bị giục giã, ngồi đứng buồn rầu giận hờn, tinh dịch riêng mình nó chảy ra, tiều tụy mà chóng già, tất cả những cái đó, đúng là phải nên dẹp đi.

Nếu như biết đường lối dưỡng âm, làm cho hai khí hòa hợp, thì hóa làm con trai, nếu không làm con trai thì cũng hóa thành tinh dịch, chảy vào trăm mạch, lấy dương dưỡng âm thì trăm bệnh tiêu trừ, sắc mặt vui tươi, bắp thịt tốt đẹp sống lâu dài mãi mãi, không già như người thường mà là như trẻ nhỏ. Xem xét kỹ được cái đạo đó, thường giao với con trai, có thể tuyệt cốc (nhịn ăn chất bột) trăm ngày, mà vẫn không biết đói. Có người bệnh giao với quỷ, lại cũng không ăn, huống hồ là giao với người?

(Chú giải) Lấy dương dưỡng âm là ở chỗ sau khi giao tiếp nên để cho tinh dịch lưu tồn trong âm đạo, làm cho bộ máy sinh dục hấp thu tinh dịch, phân hóa trộn đều vào chất lỏng đem đi nuôi bổ toàn thân. Không ít người con gái sau khi giao tiếp, được tư bổ, chẳng riêng khôi phục lại sức khỏe mà còn phát phì thân thể, như người con gái bị bệnh thần kinh suy nhược và lao phổi thời kỳ đầu, thỉnh thoảng được hấp thu tinh dịch mà khỏi.

Có người con gái dùng miệng lưỡi mút dương vật của con trai, làm cho xuất tinh rồi nuốt mà ăn lại có chất bổ rất là đặc biệt, họ nuôi con trai còn nhỏ để giao tiếp cho chảy tinh ra, dùng làm thứ bổ dưỡng.

(Chú giải) Nam nữ 16 tuổi đến 30 tuổi mỗi tuần (chu) thường làm trên 25 lần. Đến 50 tuổi thì mỗi tuần nhiều nhất là 14 tuần. Tuổi 60 thì 3 lần là cùng. Có số ít người tuổi 30 mà mỗi tuần không quá 2 lần hoặc 3 lần, tuổi 40 chỉ 2 lần, tuổi 60 thì cần 1 lần. Về số lần giao tiếp lấy làm mức độ thích hợp, có người chủ trương từ số lần theo mỗi ngày, số lần theo mỗi tuần. Có người lấy tốt nhất là mỗi tuần một lần, có chủ trương cứ mỗi đợt 9 ngày thì giao tiếp một lần, có người cho là 10 ngày một lần giao tiếp là thích hợp với người già, có người lại quy định cứ cách hai tuần thì giao tiếp một lần; có người cho là mỗi năm từ 50 đến 100 lần là hợp lẽ nhất. Đó là kiến nhân kiến trí, không giống như nhau mà đủ cả. Giao tiếp thưa dày phải nhìn vào tính năng của hai phía nam nữ làm tiêu chuẩn, và ở mỗi lần giao tiếp xong, tinh lực khôi phục đến mức tính dục dấy rõ rệt, thì lại làm giao tiếp, có thể tăng thêm khoái cảm. Đạt được mức giao tiếp mà không xuất tinh thì mỗi ngày nhiều đến 10 lần cũng không hại.

Xung Hòa Tử nói: “Cực tình sính dục (nếu tự mình cực độ ham muốn tình dục), tất có bệnh tổn thương, cái đó mà giao nghiệm thì rất rõ. Đã bị bệnh đó, cũng có thể làm khỏi cái đó. Giải say lấy rượu, đủ làm ví dụ.

Giao tiếp mở mắt: Cùng thấy hình thể nhau. Ban đêm đốt lửa đọc sách, tức bị bệnh mắt mờ, thanh manh. Cách chữa: Ban đêm nhắm mắt mà giao thì khỏi.

Giao tiếp lấy địch nhân đặt trên bụng, từ dưới nâng lưng lên để ứng, nếu đau thắt lưng, bụng dưới thấy co ở trong, hai chân quắp lại, lưng trên gãy gập. Cách chữa: Nằm úp người thẳng mình, từ từ đùa chơi, khỏi.

Giao tiếp cúi thấp đầu, vươn cổ, là bệnh nặng đầu cứng cổ. Cách chữa: Để đầu đặt trên trán địch nhân, không thấp, khỏi.

Giao tiếp phạm lúc no, gọi là lúc nửa đêm khi ăn uống chưa tiêu, mà đã vui đùa thì bị bệnh, khí đầy tức đâm ở ngực, dưới sườn như bị rút ra, trong ngực như rách, không muốn ăn uống, trong tâm như kết tắc, có khi nôn mửa xanh, vàng, vị khí đầy kết ở mạch, nếu lục huyết thổ huyết, nếu dưới sườn rắn đau, mặt mọc mụn ác. Cách chữa: Qua nửa đêm, hướng về sáng sớm giao hợp, khỏi.

(Chú giải) Sau khi ăn mà giao tiếp, có làm cho công năng của vị khô kiệt, mà phát sinh chứng không tiêu hóa.

Giao tiếp phạm vào lúc uống rượu, gọi là say mà giao tiếp, vui đùa, dùng sức quá sâu hết mức, thì bị bệnh hoàng đản mạc đạn (da vàng mà có quầng đen), dưới sườn đau, có khí động tiếp tiếp, tay để xuống phía trong dùi, mùi thơm giúp cho thịnh thủy tản ra trên rốn dẫn lên vai, quá lắm thì lưng trên và ngực đau, ho thóa huyết và khí lên. Cách chữa: Không lại thừa (nhân lúc) rượu nóng, hướng về sáng sớm giao tiếp, thở ra chầm chậm, buông lỏng thân mình, khỏi.

Buồn (mót) đi tiểu mà không đi tiểu ngay, để thế mà giao tiếp, thì bị bệnh đái buốt (chứng lâm), bụng dưới khí cấp, khó đái, trong ống dương vật đau đớn, thường phải lấy tay vuốt giữ, một chốc lát mới muốn ra. Cách chữa: Đi tiểu tiện trước, lại nằm yên một mình, lâu khoảng chừng nửa bữa ăn mới từ từ giao tiếp, khỏi.

Mót đi đại tiện mà không đi dại tiện lại giao tiếp thì bị bệnh trĩ, đi đại tiện khó, ngày tháng ỉa ra mủ, cạnh lỗ đít mọc mụn, như mỏm núi và lỗ huyệt, phân ra không giờ giấc, sưng tấy đau đớn, nằm không thở dược. Cách chữa: Dùng giữa lúc gà gáy, trước hết cởi quần áo, lại nằm yên một mình, từ từ cùng vui đùa, khắp người có ý buông lỏng, làm cho trơn chảy tuột ra, bệnh khỏi hay như thần, và khỏi cả bệnh đàn bà.

Giao tiếp quá mức, mồ hôi ra như hạt châu, co duỗi xoay vặn, phong sinh ra ở trong cái chân, tinh suy khí kiệt, phong tà nhập vào người, thì bệnh lỏng bắp thịt, yếu làm thành què thọt, tay không đưa được tới đầu. Cách chữa: ái dưỡng tinh thần, uống địa hoàng tiễn.

Vu Tử (người đồng cốt) Đô nói: Đạo làm cho người ta mắt sáng, gặp lúc động dục phóng tinh, ngửa đầu bế khí (nín thở) thở to mà trợn mắt, liếc nhìn sang hai bên trái phải, co rút bụng lên đề hoàn tinh khí đưa vào trong trăm mạch trong người”.

Điều ngũ tạng tiêu đồ ăn, đạo chữa bách bệnh, gặp khi muốn phóng tinh (lâm thí), mở dạng đùi ra, lấy ý nạp khí, sau khi co rút cái tinh tán về lại trong trăm mạch. Làm chín nông một sâu khoảng giữa tới cầm huyền mạch xỉ. Chính khí về lại, tà khí tán mất.

Cách làm cho người ta lưng và thắt lưng không đau. Phải thẳng lưng như bức tường, không cúi ngửa quá lưng dưới và lưng trên bằng nhau, đi ngược lại. Thường làm cho chảy, muốn giúp cho hư. Dưỡng thân thể trị bệnh, muốn chảy không cho chảy. Lại chảy chảy vào trong, chảy vào trong thì thông nhiệt.

Đạo âm dương lấy tinh dịch làm quý, tức là luôn có thể yêu quý cái đó thì có thể gìn giữ được tính mạng. Phàm sau khi làm cho chảy ra, phải lấy khí của người con gái để bổ cho mình, lại khỏe tám, nghỉ ở trong chín, chán một, lấy tay trái sát (chèn chặt) dưới âm bộ, tinh trở về làm dịch, lấy khí thì làm chín nông một sâu. Để mồm đúng mồm con gái (địch nhân), họ thổi ra ta hít vào, dẫn nhẹ hai lần trước, nuốt cái đó. Khí đến, lấy ý dẫn xuống, xuống đến bụng để giúp âm làm âm lực, làm như thế ba lần (làm lại ba lần). Lại đưa trở về chỗ nông, làm chín nông một sâu, chín lần chín là 81, đủ dương số, lúc này dương vật rất cứng, rút ra. Mềm rồi lại nạp vào, đó là “Vào mềm ra cứng”, hòa âm dương ở cầm huyền và mạch xỉ, dương bị khốn ở dưới côn thạch, âm khốn ở giữa mạch xỉ, nông thì đắc khí, xa thì khí tán.

Một là đến cốc thực thì hại gan, thấy gió thì chảy nước mắt, đi đái có nước thừa nhỏ giọt.

Đến xú thử thì hại phế, ho ngược lên, lưng dưới lưng trên đau.

Đến côn thạch thì hại tỳ, bụng trướng tanh hôi, từng lúc, từng lúc ỉa lị đau ở hai đùi, trăm bệnh sinh ra ở côn thạch, cho nên hại.

Khi giao tiếp hợp cách, không muốn tới xa.

(Chú giải) Giao tiếp đến mức đạt được trên chín mươi phần trăm khoái cảm, khi tinh dịch muốn chảy ra, ôm cứng lấy mình người con gái, dương vật sâu vào đến đáy vách âm đạo, co rút bụng trên mà không động, cắn răng nín thở, nhạc ngựa ở bên sườn núi, tinh dịch tự hoàn (trở lại). Nhưng phải bảo người con gái không động, động một cái là cơ quan khoái cảm tăng lên, như cái tên trên giây cung, không thể hạn chế thì xuất tinh mất.

Cách làm cho tai không điếc: Khi muốn chảy tinh, nuốt một hơi lớn, cắn hàm răng, nín hơi, làm cho trong tai có tiếng gió ào ào, co rút bụng hợp khí, chảy tới rải tới kiên (?có thể là chữ thận chứ không phải chữ kiên), làm như thế thì tới già cũng không diếc.

Hoàng Đế hỏi: “Phạm vào những điều cấm đó thì cách chữa như thế nào?”.

Tử Đô nói: “Phải lấy con gái để chữa lại cái đó, cách đó là bảo người con gái nằm ngay ngắn, hai đùi cách nhau chín thốn, nam đến theo, trước hết uống ngọc tương (mút nước bọt người con gái), lâu lâu đùa (lộng) đến hồng tuyền (suối của chim hồng – cửa mình), từ từ nạp dương vật, lấy tay hạn chế cái đó, ở khoảng giữa huyền cầm và mạch xỉ, địch nhân đâm nhảy vọt lên lòng bồn chồn, thường mình phải tự kiên trì (giữ cho lâu) không làm cho tinh chảy ra, chừng 30 nhịp thở, làm cho cứng rắn, mới từ từ nạp vào, làm cho đến côn thạch, phải cực to khỏe, to thì rút ra, nghỉ một ít, khi nó mềm yếu lại nạp vào. Thường làm cho “vào mềm ra cứng” không quá 10 ngày, rắn như sắt, nóng như lửa, trăm trận cũng không nguy hiểm.

Hợp âm dương có bảy điều kị:

1.    Kị ngày hối, ngày sóc, ngày vọng (ngày đầu tháng, cuối tháng và ngày rằm hàng tháng). Vào những ngày đó lấy để hợp âm dương (thụ tinh sinh con), tổn khí, nếu lấy để sinh con, con tất có hình tàn, nên ghi sâu và thận trọng.

2.    Kị lúc sấm và gió, trời đất cảm động, lấy để hợp âm dương, huyết mạch nhảy lung tung, lấy để sinh con, con tất ung thũng.

3.    Kị lúc vừa mới uống rượu, ăn cơm no, khí chưa hành, đã hợp âm dương, trong bụng dễ phình ra, nước tiểu trắng đục, lấy để sinh con, con tất điên cuồng.

4.    Kị lúc vừa mới đi đái, tinh khí kiệt đã hợp âm dương, kinh mạch bị nhỏ giọt (lịch), lấy để sinh con tất yêu nghiệt (tính tình tai quái).

5.    Kị lúc vừa mới làm mệt vác nặng, chí khí chưa trở lại yên, đã hợp âm dương, gân lưng đau đớn, lấy để sinh con, con tất yêu tàn (yêu ma tàn bạo).

6.    Kị lúc vừa mới tắm gội, tóc da chưa khô, đã hợp âm dương, làm cho người ta ngắn hơi (đoản khí), lấy để sinh con, con tất không trọn vẹn (bất toàn).

7.    Kị sự giận giữ cứng rắn hết mức của người lính, mạch ở trong dương vật đau, thường hợp không hợp, nội thương có bệnh, như thế là thất thương.

Người ta sinh ra mà câm điếc, là mộ nguyệt chi tử (tập tụ của tháng chạp), lạp mộ thì trăm quỷ tụ hội, đêm đông không nghỉ, người quân tử thì trai giới, kẻ tiểu nhân thì tư hợp âm dương, đứa con đó tất câm.

Người ta sinh ra hại chết, tên là hỏa tử, đến đuốc chưa tắt mà hợp âm dương tất có chết hại ở giữa chợ.

Người ta sinh ra mà điên cuồng, là lôi điện chi tử, tháng tư và tháng năm có mưa xuống và sấm sét, người quân tử thì trai giới, kẻ tiểu nhân thì tư hợp âm dương, sinh con tất điên cuồng.

Người ta sinh ra mà làm món ăn cho hổ lang, là trọng phục chi tử, người con có hiếu thì đội khăn tang, không ăn thịt, người quân tử thừa sức ngừng, kẻ tiểu nhân thì tư hợp âm dương, có con tất làm món ăn cho hổ lang.

Người ta sinh ra mà chết đuối nước, người cha ăn quá no, chứa trong đồ bằng đồng vuông, úp đồ đồng đó chôn ở dưới tường, vào trong đất bảy xích (thước cổ), tên là đồng tử lý, chết chìm trong nước.

Hại phong chi tử, tất lắm bệnh. Lôi điện chi tử, cuồng điên.

Say nhiều, đại toái chi tử, tất ngây dại cuồng.

Mệt mỏi, lao quyện chi tử, tất chết non.

Hành kinh, kinh nguyệt chi tử, đi lính mà chết.

Chập tối, hoàng hôn chi tử, nhiều biến.

Người ta muốn định con không câm bốn (?) điếc.

Nhật nhập chi tử, miệng lưỡi không lành.

Nhật trung chi tử, bệnh điên.

Giờ thân, bộ thời chi tử, tự hủy hoại (thương).

Bành Tổ nói: “Cách cầu con, phải nuôi dưỡng tinh khí, không cho chảy ra nhiều lần. Để người đàn bà hành kinh xong sạch sẽ được từ 3 đến 5 ngày mới giao hợp, có con sẽ là trai, thông minh tài trí, tuổi già thọ cao quý, sinh con gái thi sạch và hiền, lấy được chồng đáng quý”.

(Chú giải) Con gái hành kinh xong, trong vòng 5 đến 10 ngày rất rễ thụ thai.

Phải hướng về lúc sáng sớm, để ngự âm dương, lợi thân tiện minh mẩy, tinh sáng sủa thêm nở nang, sinh con giàu sang mà mệnh dài lâu.

Đàn ông đủ trăm tuổi mới sinh con, con thường không thọ. Đàn ông 80 tuổi có thể ngự con gái 15 hoặc 18 tuổi, thi sinh con cũng không phạm điều cấm kỵ trên, đều thọ đến già. Đàn bà 50 tuổi, được người chồng còn nhỏ cũng có con được.

Đàn bà mang thai chưa đủ 3 tháng, lấy ngày mậu tý, chọn lấy con tai, lấy cái mũ đẹp, đốt lấy than của nó hòa với rượu uống hết, sẽ đẻ được con giàu sang đạt được rõ ràng, phải giữ kín, giữ kín cái đó.

Người đàn bà không có con, bảo người đàn bà đó tay trái cầm 14 hạt đậu xanh, tay phải giúp người đàn ông cầm đầu dương vật của họ nạp vào cửa minh của minh, đậu ở trong tay trái cho vào trong mồm, cùng một lúc với dương vật cho vào trong cửa minh, khi tinh của người đàn ông chảy ra trong âm đạo thi người đàn bà đúng lúc đó phải nuốt đậu, có hiệu. Một vạn lần thi được cả không mất đi lấy một lần. Người đàn bà phải tự để ý thấy người đàn ông xuất tinh, không được để mất thời cơ.

Xung Hòa Tử nói: “Tính người êm ái, mềm mại, cẩn thận dễ bảo, tính chất đàn bà như thế là đẹp, luôn luôn nồng nàn nhỏ nhẹ được mới phải, không những lấy làm vui mắt vui lòng, mà còn được thọ lâu dài”.

Dương tinh nhiều thi sinh con trai, âm tinh nhiều thi sinh con gái, dương tinh là xương, âm tinh là thịt.

Muốn ngự con gái, cần lấy còn ít tuổi chưa mọc vú, nhiều thịt, tóc như tơ, mắt nhỏ, tròng mắt thi đen trắng rõ ràng, mặt và thân thể mềm mại, lời nói và âm thanh êm điều hòa mà xuống, xương ở mọi nơi đều như không muốn thấy, tức là nhiều thịt mà xương không to, ở mu cửa minh và dưới nách như muốn không có lông, có thi phải nhỏ mướt.

Nếu như là người con gái có ác tướng, đầu bồng lên (tóc tán loạn), mặt như cái nồi (nồi nấu cơm ngày xưa), cổ như có cái núm gõ ở kết hầu (lộ hầu), răng như hạt mạch, tiếng nói như đàn ông, mồm to mũi cao, tròng mắt có quầng đỏ, mồm và hàm có lông như râu tóc, đầu xương cao to, tóc vành ít thịt, lông cửa minh ít mà cứng, mềm nhiều mà mọc ngược, và cái đó chụm lại, đều là tặc tổn nhân.

(Chú giải) Người con gái mà mỏ nhỏ, ngón tay ngắn, là âm đạo nông, con trai mà mỏ to, ngón tay dài là dương vật dài. Con gái mà mỏ to môi dầy thi âm thần cũng to mà dầy, ngược lại mà mồm nhỏ như anh đào, âm đạo đó tất nông, ngược lại hốc mắt sâu thi âm đạo cũng sâu, quầng mắt to mà lồi ra thi âm đạo nông, quầng mắt lõm mà nhỏ thi âm đạo cũng sâu, mắt càng cận thị thi âm đạo đó càng sâu, mỏ mà rộng bề ngang thi âm hộ lớn mà âm đạo nhỏ, lông mi ít mà mắt nhỏ, vùng nông ít lông và âm đạo nông.

Người con gái mà mắt to mà nước xuân lai láng, thi âm hộ nhỏ mà vùng trong to, nước tinh mênh mông, dương vật mà nhỏ bé, tiến vào trong đó không thấy bến bờ dâu cả. Nếu như phối với dương vật lớn, ra vào trơn tru tự do, có thể thăm dò thẳng đến hoa tâm, đặc biệt nhiều hứng thú.

Người con gái mà môi mỏ rất dài, cái âm thần đó và vùng trong to nhỏ như nhau, mà âm đạo sâu, phối hợp với dương vật nhỏ dài để giao hợp, có thể làm cho sướng thích khác thường (lạc thú hoành sinh).

Người con gái mà trên hai má có lúm đồng tiền (lí oa), âm đạo nhỏ mà âm hộ thu hẹp, khi giao tiếp trong cửa mình chớp động không thôi, có thể đến cao trào khoái cảm, làm cho người ta mất hồn.

Người con gái mà môi mỏ rối loạn ra (gãy khúc), âm hộ có thể to, có thể nhỏ, không nông không sâu, dương vật vào thẳng âm đạo, âm hộ khi trương ra khi hợp lại, khoái cảm lạ thường, nhưng gặp người như thế không nhiều.

Người con gái có âm hộ nhỏ, mà âm đạo tụ hẹp, nóng ấm lại nông, nước tinh lai láng, dương vật cho vào trong, người con gái như trẻ em mút vú, sức ma xát mạnh dễ đạt đến đỉnh cao khoái cảm, như thế là thượng thừa, nhưng cũng không thể có được nhiều người như thế.

Người con gái mà xương trán cao, lông mi đậm (lông mày, không phải lông mí), âm hộ nhỏ mà âm đạo hẹp, dương vật ở trong, nó động hút cảm khoái, làm cho người ta muốn chết, muốn thành tiên.

Người con gái mà miệng nhỏ, vùng trán hẹp, âm hộ nhỏ mà âm đạo cũng hẹp mà lại sâu xa gãy khúc, dương vật nhỏ mà ngắn, khó đạt đến vui thú mỹ mãn cho người con gái, nhưng phối hợp với dương vật nhỏ mà dài, cả trai và gái đều có thể đạt sướng cùng cực.

Người con gái mà vùng trán rộng mà tị chuẩn (gốc mũi) lùn sụt xuống, vùng ngoài âm hộ lõm bằng, to mà âm đạo cũng to, nhưng mà âm đạo nông, dương vật nạp vào trong, dễ gãi ngứa chỗ đó, phải là dài đặc biệt mới có cái đẹp diệu.

Người con gái mà da thô, không ngự. Thân mình gầy yếu, không ngự (tức là không muốn cùng với họ giao hợp). Cao thấp khác thường, không ngự. Tiếng cao như đàn ông, không ngự. ống chân, đùi có mọc lông, không ngự. Người ghen ghét, không ngự. Âm lạnh, không ngự. Ăn quá no, không ngự. Không ưa thích, không ngự. Tuổi quá 40 không ngự. Bụng dạ không điều, không ngự. Lông mọc ngược, không ngự. Thân thường lạnh, không ngự. Xương cứng rắn, không ngự. Tóc xoăn hầu kết, không ngự. Hôi nách, không ngự. Sinh dâm thủy, không ngự.

Xung Hòa Tử nói: “Dịch nói: trời xuống tượng thấy cát hung, Thánh nhân theo tượng đó”.

Lễ nói: “Lôi tướng phát ra tiếng sinh con không kiêng tránh, tất có hung tai”. Cái đó Thánh nhân làm ra. Nói thực, không thể không cẩn thận sâu sắc. Nếu như nói rằng Trời có biến thấy ở trên, đất làm tai ở dưới, người ta ở giữa đó, được yên là do không sợ mà biết kính cái đó. Hợp âm dương, trước hết là kính sợ cái lớn đó.

Bành Tổ nói: “Tiêu tức (tức là gọi về giao hợp) chi tình, không thể không bỏ đi được. Lại thường phải tránh nóng nhiều, rét nhiều, mưa to, gió to, nhật thực, nguyệt thực, động đất, sấm chớp, đó là trời kỵ, no say mừng giận, buồn rầu sợ hãi, những cái đó người ta phải kị. Nơi núi sông, thần kính, xã tắc, đất đó người ta phải kị. Đó là ba thứ kị. Phạm vào cái đó thì đem đến bệnh tật, con tất đoản thọ”.

Phàm hư hàn uống thuốc, và mọi bệnh chưa bình, sau khi hợp âm dương, thêm tổn hại cho người.

Ngày nguyệt sát (23 hàng tháng), không thể hợp âm dương. Ngày kiến, phá, trấp, định, và ngày huyết kỵ, không thể hợp âm dương, tổn hại người.

Bành Tổ nói: “Gian dâm sở dĩ làm cho người ta không thọ, chưa hẳn đã do quỷ thần làm cho như thế, hoặc lấy (?) nạp vào trong cửa mình, hoặc là lấy ngà voi giả làm dương vật của đàn ông mà dùng, đều là giặc của tuổi mạng, sớm già chóng chết.

* Trị đàn ông con trai mềm không cửng lên được, cửng lên mà không cứng, đến việc mà như vô tình, đó là dương khí ít, bắt chước nguồn của bậc hiền, dùng phương (lại gọi là đại lực hoàn):

Thung dung, Ngũ vị tử, mỗi thứ 2 phân.

Xà sàng tử, Thỏ ti tử, Chỉ thực, mỗi thứ 4 phân.

Có 5 vị, giã rây, uống với rượu bằng phương thốn chủy, ngày 3 lần.

Thục quần phủ Quân tuổi đã trên 70, lấy bài thuốc trên mà có con trai.

* Lại có một phương: Con ngài (bướm tằm) đực chưa nối với con cái, sấy khô, 3 phân, Tế tân, Xà sàng tử, 3 phân, giã rây. Trộn với thịt chim sẻ, viên như hạt ngô đồng. Gặp lúc giao tiếp, uống 1 viên. Nếu cứng không hết, lấy nước rửa dương vật.

* Phương muốn làm cho dương vật của con trai to:

Thục tiêu, Tế tân, Nhục thung dung, gồm 3 vị, lượng bằng nhau.

Tán rây, nạp vào trong cái mật chó, treo lơ lửng trên lưng chừng trong nhà ở, đủ 30 ngày, lấy cọ vào dương vật, dài ra thêm một thốn.

* Phương trị đàn bà mới giao lần đầu bị tổn thương đau đớn liền mấy ngày không khỏi:

Cam thảo 2 phân, Thược dược 2 phân, Sinh khương 3 phân, Quế 10 phân (quyển 21 dẫn làm Quế 3 phân, nước 3 thăng (quyển 21 dẫn làm 1 thăng), đun sôi, uống 1 lần.

* Người đàn bà bị làm hại do chồng dương vật quá to, nạn cửa mình sưng đau thì dùng phương: (quyển 21 dẫn là đau ở dưới có ý muốn co rút lại).

Tang căn bạch bì (rễ dâu cạo bóc lấy vỏ trắng), cắt lấy nửa thăng,

Can khương 1 lạng,

Quế tâm 1 lạng,

Táo 21 quả (21 dẫn làm 30 quả).

Lấy một đấu rượu dun sôi ba dạo. Uống một thăng. Không làm cho ra mổ hôi, không ngóng gió. Cũng có thể dùng nước đun.

* Người con trai khi giao tiếp, muốn cho dương vật rắn có khí thế, có thể dùng bài “Duy hùng hoàn”, phương dùng:

Xà sàng tử, Tế tân, mỗi thứ đều 3 phân.

Hùng tàm nga (con bướm tằm đực) sấy khô, 4 phân.

Lấy mật trộn làm viên to như hạt đậu, gặp khi giao tiếp uống cái đó, hiệu lực rất lớn.

* Lại một phương nữa:

Xạ hương    1 phân,

Thung dung    3 phân,

Chu sa    1 đồng cân,

Địa long    1 con.

Dùng một mảnh ngói hong sấy nóng cho khô trước. Lại lấy máu rùa trộn làm thành viên nhỏ. Mỗi lần dùng một viên đặt vào trong miệng, dưới vòm hàm (hạ mã khẩu trung). Khi giao tiếp lập tức to và dài. Xong việc uống nước lạnh giải.

* Khi giao tiếp muốn giữ được sự chống đỡ lâu, dùng phương dưới đây (có tên là “Thái Bình Công chủ vạn thanh kiều):

Ngũ bội tử, Viễn chí, mỗi thứ đều 2 đồng cân, Xà sàng tử 1 đồng cân. Giã rây làm tán, trộn với nước bọt đắp ở dưới dương vật, có thể giữ được sự chống đỡ lâu.

NGỌC PHÒNG CHỈ YẾU

Bành Tổ nói: “Hoàng Đế ngự một ngàn hai trăm con gái mà lên tiên, người tục lấy một vợ mà đổi mạng, biết với không biết, làm sao không xa! Biết cái đạo đó, ngự con gái cái khổ là không nhiều, không hẳn là cần sắc mặt đẹp đẽ. Nhưng muốn được ít tuổi, chưa mọc vú, mà nhiều bắp thịt. Nhưng có được bảy, tám người càng có ích lớn”.

(Chú giải) Con gái đẹp, không hoàn toàn ở sắc mặt, chỉ lấy ở bắp thịt bó đầy, chỏm vú vươn ra mềm chắc, không có bệnh truyền nhiễm, bất luận béo tròn hay là gầy mình én đều thuộc loại tốt. Nếu như bắp thịt lỏng nhẽo, chỏm vú chảy thõng xuống, thân hình không khỏe đẹp, thì giao tiếp có ích ít.

Bành Tổ nói: “Đạo giao tiếp lại không có gì khác lạ, nhưng phải thong dong yên ả từ từ, lấy êm làm quý (dĩ hòa vi quý), đùa giỡn ở vùng đan điền, tìm đúng cái miệng đó, ấn sâu lắc ít, lấy để hứng khởi cái khí đó. Người con gái cảm dương cũng có dấu hiệu nhỏ, tai nóng, như uống say rượu, vú đó cương lên, nắm vào thấy đầy tay, cổ gáy động nhiều lần, hai chân run rẩy, dâm đã đi sâu xa, bắt đầu ôm lấy thân con trai, như lúc đó, rút nhỏ mà vào sâu thì dương dược khí, âm có tồn. Lại dịch của ngũ tạng chủ yếu là ở lưỡi.

Xích Tùng Tử đã nói: “Ngọc tương có thể tuyệt cốc”. Đang khi giao tiếp, thường ngậm lấy lưỡi mà mút lấy dịch và nước bọt, làm cho trong dạ dày đó được thông, như uống thang thuốc. Bệnh tiêu khát khỏi ngay, nghịch khí lại hạ, da dẻ vui tươi, dáng vẻ như ở người con gái, cầu đạo không phải cầu ở xa, nhưng người tục không thể biết được.

Thái Nữ nói: “Không ngược với tình người, mà có thể thêm tuổi thọ, không thì cũng là vui thay!”.

Đạo nhân Lưu Kinh nói: “Phàm đạo ngự con gái, tất là muốn trước hết phải từ từ vui đùa, làm cho thần hòa ý cảm, một lúc thật lâu mới có thể giao tiếp, lúc mềm thì cho vào, cứng rắn thì lùi nhanh ra, khoảng giữa lúc tiến và thoái phải thưa và chậm, cũng không từ cao mà đâm vào (lao cắm vào), làm cho điên đảo ngũ tạng, thương tuyệt lạc mạch mà gãy nên trăm thứ bệnh. Nếu giao mà không cho xuất tinh (thí), có thể một ngày một đêm giao tới số 10 lần mà không mất tinh, mọi bệnh đều khỏi, ngày càng thêm tuổi thọ, nhiều nhiều con gái thay đổi thì ích nhiều, một đêm thay mười người trở lên thì tốt nhất”.

Tiên nhân (người tiên) nói: “Đạo hoàn tinh bổ não, là tiếp giao thấy động muốn xuất, phải nhanh chóng lấy hai ngón tay giữa ấn ngược lại chỗ sau âm nang (túi dái) và trước hậu môn (lỗ đít), ép thật mạnh tay, hà một hơi dài (trường thổ khí), và mổ răng chừng hơn chục lần, không nín thở, tiện (bèn) thả lỏng thí cái tinh đó, tinh cũng không ra được, nhưng từ dương vật vòng lại lên vào trong não. Phép đó tiên nhân dùng để dạy cho học trò (xuất thụ), đều phải uống máu mà thề mới cho, không được chuyền bậy bạ lung tung, bừa bãi, mình sẽ mắc vạ.

Nếu như muốn (răng?) ngự người con gái thật có ích, mà tinh đại động, phải nhanh chóng ngửa đầu mở to mắt, nhìn sang phải, sang trái, lên trên, xuống dưới, co rút hạ bộ để bế khí (nín hơi), tinh tự dừng. Không truyền bừa bãi cho người ta. Có thể một tháng hai lần thí (cho chảy tinh), một năm 24 lần thí tinh, đều được thọ, đến một hai trăm tuổi, có nhan sắc, không bệnh tật.

* Phương trị người con trai muốn cho khỏe, làm trong nhà một đêm hơn mười lần không nghỉ:

Xà sàng tử, Viễn chí, Tục đoạn, Thung dung.

Có bốn thứ bằng nhau, làm tán. Ngày uống 3 lần bằng phương thốn chủy.

* Phương trị làm cho con trai có dương vật to và dài ra:

Bá tử nhân 5 phân,

Bạch liễm 4 phân,

Bạch truật 7 phân,

Quế tâm 3 phân,

Phụ tử 2 phân.

Có năm thứ, làm tán. Uống sau bữa ăn, bằng phương thốn chủy. Ngày uống hai lần, ngày thứ hai mươi thì to và dài.

* Phương làm cho cửa mình con gái nhỏ lại:

Lưu hoàng 4 phân,

Viễn chí 2 phân,

Làm tán, cho vào túi lụa, nhét vào trong cửa mình, được ngay.

* Lại một phương nữa:

Lưu hoàng 2 phân, Bồ hoa 2 phân, làm tán.

Dùng ba ngón tay nhón một nhúm (tam chỉ loát) cho vào một thăng nước đun nóng, rửa cửa mình 20 ngày, sẽ nhỏ như con gái còn bé chưa cưới chồng.

* Ngoài bài đó ra còn có “Thủy hoàng đồng nữ đơn”.

Thù du, Thổ minh phàn, Thanh mộc hương, Thạch lựu bì.

Tán, rây, làm tán. Trộn với nước bọt, cho vào trong cửa mình khi giao tiếp, nhất như con gái còn bé.

* Con gái tính dục không khởi (không thấy ham muốn – lãnh cảm), tính dục chậm chạp, dùng phương:

Đinh hương, Trầm hương, Thù du, Ngọc quế, Bạch truật, mỗi thứ 1 đồng cân.

Hạnh nhân, Sa nhân, Xà sàng tử, Bản biệt tử, Tế tân, mỗi thứ 2 đồng cân.

Có mười thứ, giã rây, luyện mật làm viên, to như hạt đậu. Khi giao tiếp nghiền nhỏ nạp vào cửa mình, xuân tình bột phát (bỗng dấy lên).

1. Khoái nữ đơn, dùng phương:

Xà sàng tử, 2 đồng cân, Cẩu cốt, Đoàn khôi, Đinh phấn, Quế tâm, mỗi thứ đều 1 đồng cân.

Có năm thứ, giã rây, làm mịn, trộn vào với nước bọt đắp lên trên dương vật, khi giao tiếp người con gái cực độ khoái cảm.

2. Mỹ nữ đảo đề nhân (người con gái xoay nâng), dùng phương:

Lưu hoàng, Thù du, Xạ hương, Mộc hương, các vị đều 2 phân.

Có 4 thứ, giã rây, làm mịn. Dùng nước bọt trộn, cho vào trong cửa mình, người con gái xuân tình đại động ngay, yêu cầu giao tiếp.

3. Tư dương khoái hoạt đơn, dùng phương:

Xà sàng tử, Thù du, Mộc hương, Lưu hoàng, các vị đều 2 đồng cân.

Tế tân, Tử sảo hoa, các vị đều 2 đồng cân.

Có sáu thứ, giã rây làm mịn, lấy một ít, trộn với nước bọt, cho vào trong cửa mình. Khoái lạc không gì bằng.

4. Mỹ nữ nhất tiếu tán, dùng phương:

Long cốt, Thù du, Mộc hương, Viễn chí, Ngọc quế, Thạch lựu bì

Có bảy vị, giã rây làm mịn. Nạp một ít vào trong cửa mình, làm theo cách chín nông một sâu, người con gái cảm dương thật là đặc biệt.

5. Thôi xuân đơn, dùng phương:

Tử thạch anh, Cáp giới vĩ, Tước não hỏa, Bào thiên hùng.

Có bốn thứ dốt thành than tồn tính, cho vào trong trà hoặc rợn uống, xuân tình bột phát, không thể tự kiềm chế, tất phải cầu giao tiếp để được khoái.

6. Khoái hoạt quyển (tức là vòng quanh quần mắt dê).

Lấy vòng quanh bờ mí mắt con dê, cái lông mí bám vào đó nhất thiết không được nhổ đi, đem vùi vào trong than đá, đề phòng thối rữa. Vùi được mấy ngày thì đem lấy nước rửa sạch đi, lại đem đặt trên nồi cơm hấp cho mềm ra. Sau khi đã khô, lại đem vùi vào trong than đá. Bào chế như thế ba hoặc bốn lần, vòng ấy bị mềm dẻo không đứt, trước khi giao tiếp, lấy nước nóng ngâm cho mềm ra, tròng vào cổ quy đầu, do trên vòng có lông mí mắt, nó trà xát vào âm đạo làm cho con gái khoái không thể chia cho ai được. Hiện thời thị trường có bán vòng nhựa, trên nhựa có cắm những đám lông thú nhỏ, đó là thứ phỏng theo mà chế, gọi là “thần bí quyển”.

ĐỘNG HUYỀN TỬ – PHÒNG TRUNG THUẬT

Động Huyền Tử nói: “Âm dương bí đạo, sách đó không thấy trong “Tùy Đường sử chí”. Thấy dẫn trong quyển thứ 28 Nhật Bản Đan Ba Khang lại soạn Y tâm phương. Yếu điểm là so với sách cổ trước “Tống”, văn từ đó nhã. Phần nhiều giống như lời đẹp của người thời “Lục Triều”, chẳng gò bó việc “Bí tân”, không chế (?) lãm thành như mọi sách giả (nguỵ thư), ở đó có thể giống như lời bàn hàng ngày.

Phòng trung thuật ghi ở trong sách đời Hán “Nghệ Văn chí”, lời ở Phương kỹ sử chí nói rằng “thuật về phòng trung, tính tình đó là tột bực, cái đó là chí đạo, là của Thánh nhân chế ngoại dược để cấm nội tình, mà làm tiết văn. Vui mà hạn chế, hòa bình thọ khảo (sống lâu). Nếu ngu dốt không trông nom đến, để sinh bệnh mà chết tính mạng. Đáng tin thay lời nói rằng “Tế (đúng là)”, rằng “Chế”, rằng “Cấm”. Không phóng túng dục để bại độ, mà dưỡng tính để sống lâu dài. Động Huyền Tử, cái đó cũng chứa thành tất phải thành cái đó lưu để mà chơi ư? Trong sách bàn xếp 30 chú là âm là hòa huyết mạch, trừ bệnh kinh niên. Lời đó ra từ ở “Tố Nữ kinh”, “Ngọc phòng bí quyết”, nghe cái đó như là điều trùng lặp lại, và cùng viện dẫn. Những ngày gần đây, lại không biết gì cả, thích bàn về cái lý mới, đã làm cho con trai con gái “khỏa trục” (tranh nhau cởi trần truồng, mà sau đó tiến đến đại đồng. Không biết được rằng con người ta khác cầm thú ở chỗ (trần truồng mà không tranh nhau) “tại khỏa nhi bất trục”, tức là “quan ấp nhượng” (biết lễ phép đối xử với nhau), “Hôn nhân Khổng giáo” (hôn nhân đẹp đẽ của Khổng giáo), những điều trên đã tuyên truyền rộng rãi, giáo dục lòng nhân từ cho sinh vặt (thượng dĩ quảng cáo, hóa sinh vật chi nhân), dưới là để thu hoạch được con cháu đông đúc (hạ dĩ hoạch tử tôn chung kỳ chi khánh). Nếu như người cuồng, tức là chưa phạm điều ngăn tốt đẹp, sai phạm rơi xuống bùn den (điệt đọa nệ lê), không làm lợn mà giao, mà cũng là thú súc. Đó mà cũng là tình người ta! Mơ hồ không giáo dục ở khuê môn (dạy ở trong nhà ở của đàn bà), bản thân đã lấy làm phương pháp, mà hắn ta không nói mê loạn đời, muốn thống lĩnh người thiên hạ, lại theo tập quán đầu trâu thân rắn, cũng riêng cái tâm đó sao? Sách đó truyền, tức là đạo làm người cũng nhân đó mà được truyền, nhưng mà nhất thiết nó khác với lời đời thường ở quê mùa, không đến nỗi làm hỗn loạn tai mắt. Ta tuy từ mọi câu hỏi tốt lành khi xem trên ngọc, hoặc không nỗi làm người ta yếu đuối đi mà cười.

Động Huyền Tử nói: Trời sinh ra vạn vật, duy chỉ có người là quý nhất, người ta ở trên, không biết qua về phòng dục, phép của trời, tượng của đất, quy của âm, củ của dương, ngộ được cái lý đó, thì dưỡng được tính, dài thêm được tuổi thọ. Coi thường cái đúng đó thì thương thần yểu thọ (hại tinh thần mà chết non). Đến như phép của Huyền Nữ, cái đó được truyền từ vạn cổ, đều có sức mạnh lâu đời, nhưng vẫn chưa hết lẽ tinh vi bí mật của nó. Ta thường xem điều mục đó, suy nghĩ để bổ khuyết, tập hợp chung nghĩa xưa, tưởng nghiệm về kinh mới đó, tuy chẳng dùng được cái thuần túy đó, hoặc giả được vứt bỏ cặn bã, cái hình đó nằm ngồi co duỗi, cái thế đó sấp ngửa mở trương, theo cách nghiêng, phía lưng, phía trước và ngược lại, ra vào nông sâu theo quy định, gồm hội hai nghĩa của lý đó, đều hợp số của ngũ hành, cái đạo dẫn được đến giữ gìn mạng thọ, ngược lại với cái đó thì hãm vào nguy vong, đã có hòa mình ở đám người phàm, làm sao lại không truyền cho vạn thế.

Động Huyền Tử nói: Trời xoay trái mà đất quay về bên phải, xuân hạ chối từ mà thu đông nối nghiệp (xuân hạ tạ nhi thu đông tập): Nam xướng mà nữ hòa, trên làm mà dưới theo, đó là cái lý thường nhiên của sự vật. Nếu như nam lắc mà nữ không ứng, nữ động mà nam không theo, không thật tổn cho đàn ông, thì cũng hại cho con gái, tất cả những cái đó là do âm dương làm ra hết, trên dưới đã trái, đã có lỗi (thượng hạ liễu lệ hĩ). Lấy đó đề hội hợp, cả hai đều không lợi. Cho nên, nam xoay bên trái mà nữ phải quay bên phải, nam xông xuống mà nữ tiếp lên, lấy đó mà hội hợp, mới gọi là thiên bình địa thành (trời yên thì đất thành).

(Chú giải) Do hoạt động tình dục giữa nam nữ, vợ chồng, không nhịp nhàng, là đã làm cho hôn nhân, ái tình thành ra phá hoại. Tình hình sinh hoạt không được nhịp nhàng đó có nguyên nhân rất lớn và nó là lúc giao hợp có hành động đơn độc (một phía hành động, không có ứng tiếp phù hợp). Ví dụ như người con trai chỉ biết có một mặt thỏa mãn ham muốn của chính mình, tự tư tự lợi, về phía người con gái thành ra bị động, chỉ có nghĩa vụ, mà không có quyền lợi khoái ý. Kết quả là chỉ có làm cho cái thú tình ái hai phía trở thành lãnh đạm (nhạt nhẽo), thậm chí đến mức bị tan nát.

Sinh hoạt tình dục giữa hai vợ chồng không nhịp nhàng, một mặt chắc hẳn là do người con trai ít biết tìm học kỹ xảo yêu đương, mặt khác nữa chắc hẳn là do ở người con gái cố chấp không theo dỗ dành của yêu đương, của cầu tình, gieo rắc vui đùa, cho đến khi giao tiếp bày diễn các loại dạng kiểu, các kỹ thuật xoay vần, các trò vui, mà cho rằng như thế là không đúng lễ, không chịu làm theo, làm cho đôi bên không thể bộc lộ ra hết lòng.

Phàm nông sâu, nhanh chậm, lái quặt đông tây, lý không chỉ có một đường, có vạn đầu mối trùm lên. Nếu xông lên chậm giống như cá trắm chạy lưỡi câu. Nếu như cấp thúc như bầy chim gặp gió, tiến thoái dẫn lôi, lên xuống đón đưa, trái phải qua lại, ra vào thưa dày, đó mới là cùng giữ tất phải thành, gặp việc chế cho hợp, không thể kết hai cột cung với thương (vui với buồn) ; để lấy đúng lúc mà dùng.

Phàm giao tiếp lần đầu tiên, trai ngồi bên trái gái, gái ngồi bên phải trai, nam ngồi như cái giần (cơ tọa), ôm người con gái vào trong, đó là sườn chọc vào lưng, vuốt ve thân mình, duỗi én đẹp, truyện trò bàn bạc, đồng tâm đồng ý, kẹp ôm kẹp sườn, hai thân hình va chạm vào nhau, hai miệng cùng hôn hít nhau, con trai ngậm môi dưới người con gái, nữ ngậm môi trên người con trai, cùng một lúc mút bú môi nhau, nuốt ăn nước bọt của nhau, hoặc hôn mút lưỡi, hoặc cắn nhẹ vào môi, hoặc yêu quý ôm lấy đầu, ép nói nhỏ bên tai, vuốt ve ở trên chụp tay day ở dưới, hôn chỗ này chỗ khác, hàng nghìn kỹ xảo đã nói, mới bảo người con gái đem bàn tay trái ôm nắm lấy dương vật, con trai lấy bàn tay phải vuốt ve cửa mình, thế là nam cảm âm khí mà thì dương vật chấn động, tình trạng đó một tí chút là lên chót vót, hoặc nếu như riêng một mồm đó gặp phải Quỳnh Hán. Con gái cảm dương khí thì ở đan huyệt chảy nước ra, tình trạng đó một tí chút là xuống đến chết (quyên nhiên hạ thệ). Nếu như suối sâu đó nói là hang sâu, đó là âm dương kích mạnh mà làm ra như thế, không phải do sức người gây nên ở đó. Cái thế đến mức đó là có thể giao tiếp. Ví dụ: như nam không cảm thấy rung động, nữ không có nước dâm, đều là nguyên nhân phát bệnh ở trong, tật hình ở ngoài.

Động Huyền Tử nói: “Phàm khi giao tiếp lần đầu, nữ trước ngồi mà sau nằm, nữ bên trái mà nam bên phải, nằm yên xong, bảo người con gái nằm ngửa thẳng mặt, duỗi giang chân, thõng tay, nam nằm úp lên trên, quỳ ở trong đùi, lấy dương vật thẳng đứng ấy kéo xuống cho vào miệng cửa mình rậm rạp đó, như là cây thông ngã ngửa đó phải sợ trước cái hang động, lại kéo xát ở sườn, miệng kêu tìm lưỡi, hoặc trên thì nhìn mặt ngọc, dưới xem rãnh vàng, vuốt ve khắp mặt gò vú, sờ tìm bên cạnh ngọc đài (tiếp: trên là miêu tả “ngoại du” vẫn chưa “nội giao” đấy), nước dâm của con gái đậm đầy ở đan huyệt (cửa mình), thì lấy mũi nhọn của dương vật cho vào trong tử cung, sướng mà ra tinh, chảy ra cùng với tân dịch, trên thì chảy đến ruộng thần, dưới thì ngấm ngáp vào hang tối (thượng quán thần điền, hạ khái u cốc), làm cho qua lại gõ khua, tiến thoái chùi cọ, con gái tất muốn chết, muốn sống, xin thôi (khất tính mạng), thì lấy khăn vải khô lau chùi, rồi sau đó mới lấy dương vật cho vào trong cửa mình sâu đến dương đài (tận gốc dương vật), lởm chởm như đá to ôm lấy cái sâu và rách, mới làm cách chín nông một sâu, đâm dọc nâng ngang, dẫn kéo bên cạnh, nhổ nghiêng, đột nhiên chậm, đột nhiên nhanh, hoặc nông hoặc sâu, qua 21 nhịp thở, thời gian khí ra vào, con gái được khoái ý, nam sẽ nhanh chóng đâm dọc vào gấp, kéo sườn nâng cao, thời gian nữ động lắc, lấy làm hoãn cấp, sẽ làm cho mũi nhọn của dương vật cong đến cốc thực, thúc vào dạ con, nghiền xát bên trái bên phải, tự chẳng lẫn lộn tí ti nào về rút ra, nữ đang chảy tràn tân dịch, nam sẽ phải lùi, không thể chết lại, tất phải sống lại, nếu như chết ra, sẽ đại tổn nam, nên đặc biệt cẩn thận”.

(Chú giải) Giao hợp, cái thứ nhất phải chú ý là: Trước khi nạp dương vật vào trong âm đạo, cần phải chuẩn bị thật đầy đủ, không thô lỗ, nhất thiết tránh tính vội vàng. Nếu như mất đi cái thô thiển, cả hai phía nam nữ mới có thể đạt đến khoái lạc chân chính, như là thiên đường đẹp đẽ khác thường, mất đi sự gò bó.

Trước khi hai bộ máy sinh dục tiếp xúc nhau phải có sự chuẩn bị, tức là khi nam nữ cầu tình có động tác đó, cần có thêm phần chuẩn bị công phu, tức là khoảng lâu dài tương đương với thời gian trong khi giao tiếp, trong tình ái tự do, tuyệt đối không chịu sự câu thúc nào, giữa biển và trong phạm vi lớn của bầu trời, bầy diễn ra sự dũng cảm cầu tình nhất thiết có động tác đó, hoặc cùng hát múa, hoặc vào phòng tắm, như uyên ương dỡn nước, hoặc ở đầu giường, cùng khỏa thân nhìn ngắm nhau, giúp nhau vui vẻ thỏa mái, giúp nhau ôm ấp, giúp nhau ép dán người vào nhau, cùng nhau nói chuyện yêu đương, cùng nhau đưa môi, mút lưỡi, miệng kêu chùn chụt không thôi, hướng về răng và lưỡi đó, cái chóp môi đó hút nước bọt, xoa vuốt khắp thân thể, đùa giỡn đầu vú, lấy vuốt ve mãi không thôi, tiếp đó là lấy miệng mút lưỡi liếm, và lấy tay vuốt ve mu cửa mình, âm hạch, đùi bột mông mỡ. Do làm vuốt xoa đùa bỡn ở các vùng và các tổ chức thần kinh tình dục, có liên quan mật thiết, có thể dẫn đến xung động tình dục, con trai lại tiến tới lấy tay lôi kéo ôm lấy con gái ở ngực, lấy một tay ôm ở lưng liễu, đưa qua vùng mông tròn béo nóng ấm mềm mại, đặt ở trên rãnh háng đùi, và bảo người con gái giang hai đùi ra, làm cho miệng âm hộ thêm phần mở rộng, hai đùi tự do dao động, dương vật của con trai tiếp xúc một vòng chung quanh đùi mông, và trước sau với hai bên trái phải cửa mình, một mặt con gái dùng tay nắm lấy dương vật của con trai vừa nắn vừa xoa, đến mức làm tình rất tốt, rất nhanh có thể làm việc đó, như thế là tận tình vui đùa, bộ máy sinh dục của cả hai bên nam nữ hoàn toàn trương giãn, tự nhiên đòi hỏi giao tiếp, tinh thủy của hai bên chảy ra như suối, như thế là hoàn thành công tác cầu tình, mới có thể mở đầu công việc giao tiếp. Máy sinh dục của hai bên do nước dâm nhiều nhiều, qua một lần tiếp xúc, dương vật cực dễ tiến vào rút ra trong âm đạo, nhưng dương vật mới cho vào trong âm hộ cần từ từ rút ra tống vào, không thể gấp gáp lỗ mãng, dùng phép chín nông một sâu, chọn các kiểu cách trong ba mươi cách giao tiếp, (xem ở đoạn sau), và chín loại hình dạng (xem ở đoạn sau), làm cho vợ con thật thích đến mất hồn, hoặc đạt đến khoái cảm cao trào tột cùng, tinh dịch đại động, như là tên đặt trên cung đã trương giây, không thể không bắn đi, nhưng phải hãm địch không để chảy ra, chống lại cái chết triền miên. Như sách này đã nói, làm cho người con gái cầu chết cầu sống, xin tính xin mạng, anh anh em em với nhau, tương ứng, rên rỉ lãng mạng, cuồng rút ra nhanh đẩy lại, chà xát bộ máy tình, nghe tiếng động khắp giường, nhịn không thể nhịn được, thuận theo cái tự nhiên đó đồng thời chảy tinh ra. Giao tiếp như thế mới biết là tính chất đàn ông, không bàn đến tính thiện, tính ác, tính lương, muốn số ít người con gái nhỏ đó. Chưa có trường hợp nào không nhằm vào chồng dính lại mà nghiêng lòng nhiệt ái (yêu nồng nàn).

Có một vài người con trai khi giao tiếp, làm xong việc vuốt ve hôn hít nói chuyện tình yêu vui vẻ chỉ trong một vài phút, là máy sinh dục hai bên đã làm việc tiếp xúc, kiếm tới thì đi bộ tới (kiếm cập lữ cập), không quá mấy phút hoặc hơn mười phút mà chảy tinh ra, thậm chí chỉ một hai phút là bại vỡ, như thế thì nhanh khoái đàn ông, nhưng mà trên phương diện sinh hoạt nam nữ thường không có thể hợp đồng điều hòa, làm cho vợ con không thỏa mãn, thường thường ảnh hưởng đến sự tan vỡ của tình yêu.

Trên là thuật về vui đùa đầu vú, đưa môi cho nhau là rất có thể dẫn đến hành động tình dục rất tốt đẹp nhất, bởi vì vùng vú, vùng miệng lưỡi và máy sinh dục cảm giác liên hệ đặc biệt mật thiết nhạy vui, vùng ngực người con gái đầy cao lên đó, hai mỏm ưỡn ra, lắc tìm có đoạn có muốn phá áo mà ra, làm cho người ta thấy cái đó, lại làm không chẳng nghĩ cái đó, là đã mới bóc thịt đầu gà (tức dĩ tân bá kê đầu nhục). Đường Minh Hoàng bị vú của phi mua, tức phần lớn con trai bị cái mỏm ngọc của con gái lắc tìm mà khêu gợi, động ở xa so với máy sinh dục là nhiều đến chỗ đỏ môi nhẹ mép, tiến mà làm sâu mép, loại miệng lưỡi đó giao lưu, rất đủ để dẫn đến tình cảm. Đoạn văn trên đã thuật đến, nói chung là con trai mỗi lần cùng với con gái, trước hết tốt nhất là ngậm môi hoặc hôn mút lâu thường làm cho dương vật cứng lên rất nhanh, âm hộ con gái cũng do đó mà trương giãn ra, quá lắm thì tất ra nước dâm, có những đôi vợ chồng tình ái thật đầy đủ, cứ một vài phút lại đưa môi hôn nhau một lần, cũng có khi hôn môi mút lưỡi đến năm phút, mười phút, và đến nửa vòng đồng hồ (nửa giờ) lúc môi cùng chảy nước bọt, đều mút bú mà nuốt. Có người cho rằng nước bọt của người yêu có thể lấy để thanh hỏa nhuận hầu, làm cho không bị đau vùng họng, lời nói tuy khôi hài, mà trong sách này nói nước bọt dãi ở miệng lưỡi đó vị điềm mật (dịu dàng), đúng là làm cho người ta mút hàng trăm lần mà không chán.

Tóm lại về cách cầu tình, không chỉ có một là đủ. Phàm người con gái có tóc đẹp, lòng đen mắt rất sáng, má mặt hình quả hạnh, tai quả đào, môi đỏ, răng trắng, cổ phấn, cánh tay ngọc, cổ tay ngọc, mỏm vú cao, thắt lưng liễu, đùi phấn, mông béo, ngọc môn như rãnh ngọc, vàng, đều có thể thung dung hân thưởng, không chẳng đẹp diệu, mà cái sinh khí đẹp đẽ đó, người con gái đẹp, người con gái thẹn, bắt con gái đẹp về cảnh đẹp (triệt kiều lệ cảnh), đường gãy, nước mùa thu đầy lòng đen mắt, quay đầu lại cười một nụ, không chẳng làm cho biết tình con trai, thương yêu hương luyến tiếc ngọc, sinh ra lòng ái mộ, tăng thêm nhiệt tình, nâng cao cái thần hiệu của cầu tình.

Động Huyền Tử nói: “Khảo lại cái thế giao tiếp, lại không ra ngoài 30 cách”, trong đó có gập duỗi, sấp ngửa, ra vào nông sâu, lớn lớn là giống nhau, nhỏ nhỏ có khác nhau, có thể nói bao quát hết tất cả, dùng nhiều không rơi, ta tùy hình ảnh của cái thế đó, mà chép tên đó, sai hình mà lập nên số, mới biết tiếng quân tử, chí đó diệu đến tột cùng.

1.    Tự trù mặu (nói truyện ràng buộc nhau).

2.    Thân khiển quyển (nói rõ sự lưu luyến).

3.    Bao tai ngư (cá phồng mang).

4.    Kỳ lân giác (sừng kỳ lân).

Bốn thế trên đây mới là “ngoại du”, phàm ngoại du vui đùa, đều là một hàng như nhau.

5.    Tàm triền miên (tằm đăng tơ): Người con gái nằm ngửa, hai tay giơ lên trên ôm lấy cồ con trai, lấy hai chân giao lên lưng con trai, nam lấy hai tay ôm lấy gáy con gái, quỳ ở giữa hai đùi con gái, là nạp dương vật.

6.    Long uyển chuyển (rồng uốn khúc): Người con gái nằm ngửa, gập hai chân, con trai quỳ trong đùi người con gái, lấy tay trái đẩy hai chân người con gái hướng về trước, làm cho qua vú, tay phải cầm dương vật nạp vào trong cửa mình.

7.    Ngư tỉ mục (cá đọ mắt nhau): Cả nam nữ đều nằm, nữ lấy một chân đặt trên nam, mặt hướng về nhau, hút miệng kéo lưỡi, nam duỗi hai chân, lấy tay khiêng chân trên của người con gái, tiến dương vật vào.

8.    Yến đồng tâm (chim yến đồng lòng): Bảo người con gái nằm ngửa, duỗi hai chân, nam cưỡi sấp trên bụng nữ, lấy hai tay ôm cổ nữ, hai tay nữ ôm lấy thắt lưng nam, để dương vật nạp vào trong cửa mình.

9.    Phỉ thúy giao (chim bói cá giao): Bảo người con gái nằm ngửa co chân, nam quỳ mở rõ gót chân ngồi ở trong đùi con gái, lấy hai tay ôm lấy lưng lớn, tiến dương vật đến huyền cầm, ở trong.

10.    Uyên ương hợp (chim uyên ương họp nhau): Bảo người con gái nằm nghiêng, co hai chân, để đùi của nam lên trên, nam ở đằng sau lưng nữ, cưỡi lên đoạn dưới chân nữ, thẳng đứng một đầu gối đặt trên đùi con gái, nạp dương vật.

11.    Không phiên diệp (bướm bay trên không): Nam nằm ngửa, duỗi hai chân, nữ ngồi trên nam thẳng mặt, hai chân chiếm giường, mới lấy tay giúp sức tiến mũi nhọn của dương vật vào trong cửa mình.

12.    Bối phi phú (vịt trời bay ngược lại): Nam nằm ngửa duỗi hai chân, nữ ngồi quay phía lưng lại trên nam, chân nữ chiếm giường, cúi đầu ôm lấy dương vật nam nạp vào trong cửa mình.

13.    Yến cái tùng (nằm ngửa buông nắp đậy): Bảo người con gái chéo chân hướng lên, nam lấy hai tay ôm lấy lưng nữ, nạp dương vật vào trong cửa mình.

14.    Lâm đàn trúc (gặp cái bệ bằng trúc): Nam và nữ đều đứng quay vào nhau, mút miệng, cùng ôm vào chỗ cửa mình, lấy đầu nhọn dương vật cho vào sâu, không đến trong dương đài.

15.    Loan song vũ (chim loan múa đôi): Nam nữ một ngửa một sấp, ngửa thì co chân, sấp thì cưỡi lên, hai bộ máy âm hướng về nhau, nam ngồi kiểu giần, lấy dương vật công kích lên xuống.

16.    Phượng tướng sô (phượng đem gà đi): Người đàn bà to béo, dùng một con trai nhỏ cùng giao tiếp, rất đẹp.

17.    Hải âu tường (chim hải âu lượn): Nam đến cạnh giường, giơ cao chân người con gái bảo họ nâng lên, nam lấy dương vật cho vào trong tới tử cung.

18.    Dã mã dược (ngựa hoang chạy): Bảo người con gái nằm ngửa, nam nâng hai chân người con gái lên, lên phía vai bên phải, nạp sâu dương vật vào trong cửa mình.

19.    Ký sánh túc (chân ngựa mở ra): Bảo người con gái nằm ngửa, nam ngồi xồm, tay trái nâng gáy nữ, tay phải nâng cao chân nữ lên, rồi lấy dương vật nạp vào trong cửa mình.

20.    Mã dao đề (ngựa lắc móng): Bảo người con gái nằm ngửa, nam nâng cao chân người con gái lên, đặt lên vai mình, một chân tự giơ lên, nạp sâu dương vật vào trong cửa mình. Đại hứng thay!

21.    Bạch hổ đằng (hồ trắng nhảy): Bảo người con gái cúi sấp mặt quỳ gối, nam quỳ phía sau nữ, hai tay ôm lấy lưng nữ, nạp dương vật vào trong cửa mình.

22.    Huyền thuyền phụ (con ve đen bám): Bảo người con gái nằm sấp mà duỗi chân, nam ở trong hai đùi, gập chân, hai tay ôm lấy cổ người con gái, từ phía sau nạp dương vật vào trong cửa mình.

23.    Sơn dương đối thụ (dê núi nhằm vào cây): Nam ngồi xếp vòng tròn, bảo người con gái xoay phía lưng lại ngồi lên trên nam, người con gái tự cúi đầu nhìn nạp dương vật, nam ôm co sườn và lưng con gái.

24.    Côn kê lâm trường (chim côn kê đến bãi): Nam ngồi xổm ở trên giường, bảo một người con gái nhỏ phải cầm dương vật nạp vào trong cửa mình, một người con gái ở phía sau kéo quần người nữ, làm cho đủ khoái. Đại hứng thay!

25.    Đan huyệt phượng du (chim phượng chơi ở huyệt đỏ): Bảo người nữ nằm ngửa, lấy hai tay tự nâng hai chân, nam quỳ ở sau nữ, lấy hai tay chống xuống giường, tự nạp dương vật vào đan huyệt, rất đẹp đẽ.

26.    Huyền minh bằng (mưa bay chéo chim bằng): Bảo người con gái nằm ngửa, nam nắm lấy hai chân người con gái đặt lên cánh tay trái phải, để lay xuống ôm lấy thắt lưng người con gái, để nạp dương vật.

27.    Ngâm viên bão thụ (vượn rên rỉ ôm cây): Nam ngồi xếp vòng tròn, nữ cưỡi lên đùi nam, lấy hai tay ôm nam, nam lấy một tay đỡ xương đuôi nữ, nạp dương vật, còn một tay chống xuống giường.

28.    Miêu thử đồng huyệt (mèo và chuột cùng một huyệt): Nam nằm ngửa để duỗi chân, nữ nằm sấp trên nam, nạp dương vật vào sâu, rồi lại đổi thành nam nằm sấp trên nữ, để đem dương vật công kích cửa mình.

29.    Tam xuân lư (con lừa ba xuân): Nữ cả hai tay hai chăn đều chống xuống giường, nam đứng phía sau, lấy hai tay ôm lưng nữ, thì nạp dương vật vào trong cửa mình, rất là đẹp đẽ.

30.    Tam thu cẩu (chó ba thu): Nam nữ xoay lưng lại nhau, đem cả hai tay hai chân đều chống xuống giường, hai đùi áp vào nhau (phía sau đùi và mông), nam phải cúi đầu lấy một tay đẩy dương vật nạp vào trong cửa mình.

(Ngoài đó ra, còn 28 hình thế như sau:)

1.    Nữ nằm ngửa: Đùi bên trái nâng cao lên, nam nằm nghiêng bên trái nữ, lấy tay ôm đùi bên trái nữ nạp dương vật vào trong cửa mình.

2.    Nữ nằm ngửa: Đùi bên phải nâng cao lên, nam nằm nghiêng bên phải nữ, để đùi phải lên đùi trái nữ, lấy tay phải nắm vú, dùng cánh tay trên giữ đùi bên phải nữ, nạp dương vật vào trong cửa mình.

3.    Nữ nằm ngửa: Nâng cao cả hai đùi, nam nằm nghiêng ngang phía trước đùi nữ, lấy dương vật nhằm đúng cửa mình nạp vào trong âm đạo.

4.    Nữ nằm ngửa: Co hai đầu gối, nam ngồi giần (cơ toạ – ngồi như ngồi giần), ở phía trước đùi nữ nạp dương vật vào cầm huyền mạch xỉ.

5.    Nữ nằm ngửa: Hợp hai đùi, nam nằm sấp lên trên, hai tay nắm hai vú, lấy dương vật xông đâm vào cửa mình.

6.    Nữ nằm ngửa (?): Dựa căng hai đùi, lấy hai tay kéo mở chỏm mông ra (phải là phủ phục mới đúng – nd), nam nằm sấp trên lưng nữ, lấy dương vật đâm sâu vào cửa mình nữ.

7.    Nữ đề sấp thân trên giường: Để một đùi đặt trên mép giường, một đùi chống ở trước giường, nam đứng đàng sau nữ, lấy dương vật nạp vào trong cửa mình.

8.    Nữ cưỡi lên trên nam, một đùi quỳ ở trên giường, một đầu gối dựng đứng lên, nam lấy dương vật đút vào cửa mình.

9.    Nữ nằm nghiêng thân trên ở trên giường vuông góc với cạnh giường, hai đùi gập đặt ở cạnh giường, vùng mông đưa ra khỏi mép giường chừng vài ba thốn, nam đứng trước mép giường, lấy dương vật từ phía sau mông của nữ nạp vào trong cửa mình.

10.    Nữ để thân trên nằm sấp ở trên một cái đài, một đùi đặt ngang mép đài, một đùi thõng xuống đất, nam đứng đằng sau nữ, để hai tay chống vào vai nữ, nạp tiến dương vật mà làm việc.

11.    Nam nữ cùng đứng hướng vào nhau, nữ nâng một chân cao lên quắp lấy lưng nam, nam lấy hai tay đỡ mông nữ, nạp dương vật vào trong âm hộ.

12.    Nam nằm ngửa, nữ cưỡi trên đùi nam, đem hai đùi chia ngang sang hai bên trái phải thành một chữ nhất, cửa mình mở to nhất, đón dương vật đưa vào.

13.    Nữ nằm ngửa, hai đùi chân giao chéo lên gáy cổ, nam nằm sấp trên mông nữ, nạp dương vật vào trong tử cung.

14.    Nữ nằm ngửa, lấy tay trái ôm chân trái, tay phải ôm lấy chân phải, nâng cao lên đến vai, nam úp sấp ở trên để nạp dương vật, hoặc để đùi nữ đặt ở mép giường, nam đứng ở trước mông nữ mà nạp vào cửa mình.

15.    Nam nằm ngửa, nữ ngồi ở trên nam, để cửa mình bọc lấy dương vật, hai tay chống xuống giường, day mông vòng quanh không dừng.

16.    Nam nằm ngửa, nữ ngồi xồm chân ngồi trên nam một điểm để cho dương vật được bọc trong cửa mình, để mũi bàn chân chống xuống giường, hướng về bốn mặt tám phương mà day động không dứt.

17.    Nữ nằm xoay ngược lên dựa lưng, hai chân chầu lên trời, dang duỗi hai đùi, nam đứng nơi cao, đem dương vật nạp vào trong âm hộ.

18.    Nữ nằm nghiêng, một chân ngay thẳng, một chân nâng cao, nam nằm nghiêng ngang hai đùi nữ, lấy dương vật cắm vào cửa mình nữ.

19.    Nữ nằm nghiêng, một đùi ngay thẳng, một đùi nâng cao, nam ngồi như giần gạo ở giữa hai đùi nữ, mở rộng hai đùi, ngồi lên giữa hai đùi nữ, hai đùi giao nhau, để dương vật vươn ra chui vào cửa mình, nam ôm một chân đùi nữ nâng cao lên, rút ra tống vào không dừng.

20.    Nam đứng trên đất, nữ lấy hai tay ôm lấy cổ của nam, để hai chân quắp lấy lưng nam, nam lấy hai tay ôm lấy mông béo của nữ, nạp dương vật vào trong cửa mình, đi vòng quanh nhà.

21.    Nữ đứng trên đất, hai chân chụm lại, để hai tay duỗi về phía trước chấm xuống đầu bàn chân, nam từ đằng sau nữ tiến nạp dương vật.

22.    Nữ đứng hai chân trên đất, thân ngửa ra hướng sau, lấy hai tay hướng ra phía sau đầu chống xuống đất, nam đứng phía trước nữ lấy dương vật đâm vào trong cửa mình.

23.    Nữ nằm ngửa, vùng mông dời đến mép giường, mở rộng hai đùi, lấy hai tay nắm chỏm vú, dùng lưỡi liếm vòng quanh cửa mình.

24.    Nam nữ trở đầu đuôi, một ngửa một úp, đầu nữ ở háng nam, miệng ngậm dương vật mà mút, như trẻ em bú vú, đầu nam gối lên mu nữ, lè lưỡi dài cho vào trong cửa mình liếm vòng quanh vách âm đạo như dùi ngoáy gỗ.

25.    Bảo người con gái ngồi xổm trên một cái ghế, hoặc trên mép giường, tay nắm lấy chỗ tựa của ghế hoặc một cây cột, nửa người trên hơi cúi gập, vùng mông hơi nâng cao, hai đùi mở rộng, nam đứng sau nữ, lấy dương vật đưa vào cửa mình, mông nữ dao động làm thành hình vòng chữ 0, hoặc nhanh hoặc chậm, hoặc nông hoặc sâu, nam vươn dương vật ra, theo lưng đón động, giúp nhau ứng hòa, sướng không thể kể hết được.

26.    Nữ đứng trên đất, lưng dựa vào cái cột, hoặc nằm ngửa, lấy hai tay ôm chân trái đầu gối lên đến vai phải, dính vào phía trên mình, bàn chân duỗi thẳng lên phía trên đầu, và chân phải để bằng ngang làm thành một đường duỗi thẳng, nam ở trước mặt nữ, lấy dương vật cắm vào trong cửa mình.

27.    Nữ hết sức dạng hai chân sang hai bên trái phải, thân trên cúi gập đầu cúi gần tới đất, hai tay trái phải giang ra nắm lấy chặt chỗ cồ chân trái phải, vùng mông tự nhiên dâng cao lên, nam lấy dương vật đưa vào trong cửa mình.

28.    Nữ nằm ngửa, lấy tay trái ôm chân trái tay phải ôm chân phải, từ dưới lách kẹp duỗi đến sau vai, hai chân giao lên phía sau đầu, âm hộ trướng cao lên, con trai nằm sấp phía trước, dương vật chầm chậm thẳng sâu vào dạ con.

(Chú giải) Trên đây là cách giao tiếp cộng lại là 58 loại, nữ nằm ngửa mà giao cấu là kiểu cách thường thấy, có người lấy cách tập hậu (hậu tập), không cùng nhìn mặt nhau, lấy hôn môi mút lưỡi vuốt ve dương vật, giảm bớt hành động tính dục, nhưng có cách tập hậu hai tay có thể duỗi ra phía trước ngực người con gái đùa giỡn đầu vú, mắt phấn son môi tóc mây uốn khúc, cánh tay ngọc tay tuyết, trước hết là vùng mông béo trắng tròn vẹn của con gái, mỏm mông giao nhau thành rãnh có đường cong thật đẹp, đã đủ làm cho người ta tan hồn. Vua không thấy khi người con gái hành động, hai bên lườn cánh tay béo, ve vẩy giao chéo lẫn nhau, muốn phá rách áo mà ra, bảo rằng làm sao mà người ta không nghĩ đến?

Nữ nằm ngửa, và cách nam nằm sấp trên người nữ, nữ lấy tay ôm nam lấy gót chân để lên giữa khoeo chân của nam, nam lấy tay và đầu gối để đỡ lấy sức nặng của chính thân thể mình, không để cho sức nặng của mình đè ép trên thân thể người nữ, làm hại cho sự hoạt động của người nữ, để cho người nữ có thể tự mình lắc động hai đùi, trên thay đổi dưới tiếp theo. Trước thì còn là xếp sắp sau thì tán loạn mài bên trái xát bên phải, hoặc xoay vòng bốn mặt, để đạt đến cảnh diệu kỳ, nếu như bị sức nặng của thân thể áp chế, thì phạm vi hoạt động của hai bên rất nhỏ bé, đủ để giảm bớt khoái cảm.

Trong các cách giao tiếp ở trên, do máy sinh dục của nam nữ không giống nhau hết cả. Máy sinh dục của nam có to nhỏ dài ngắn khác nhau. Máy sinh dục của nữ có to nhỏ nông sâu lỏng chắc khác nhau, và chia ra gầy béo cao thấp khác nhau. Khi nam nữ phối hợp máy sinh dục, thích hợp với cách giao tiếp này, chưa chắc đã thích hợp với cách giao tiếp khác, nay đưa ra những ví dụ để bổ cứu những khuyết điểm khi phối hợp máy sinh dục nói trên.

Con gái âm đạo nông, con trai dương vật to, có thể dùng cách giao tiếp nằm nghiêng, khi giao tiếp, nam nằm nghiêng bên phải, nữ bên trái, bỏ đi kiểu nằm ngửa, mặt nhằm vào con gái, chân phải co giơ lên, con gái nằm ở chân phải con trai, và ôm lấy giữa đùi con trai, để đùi trái ở dưới chân con trai, để che lấp chân trái con trai, để chân phải cưỡi qua chân trái. Như thế, con gái lấy chân con trai làm yên ngựa, con trai ở dưới cũng có thể bớt mất sức, sau khi dương vật tiến vào cửa mình, con gái có thể lấy hai tay ôm thắt lưng con trai, nửa thân trên ngồi đó mà động đậy, làm cho ngôi sắp xếp thích đáng, bộ máy sinh dục có thể kín chắc liền nhau, dễ đạt đến đỉnh điểm tình dục, và do con gái khống chế toàn cục, thân thể tự do, hai chân có thể dời động về trước về sau, hai đùi tùy ý chi phối dương vật, muốn sâu thì sâu, muốn nông thì nông, có thể giúp cho khuyết điểm của dương vật quá dài.

Con trai, con gái quá béo, bụng vươn cao ra, hai người quay mặt vào nhau mà giao tiếp, bộ máy sinh dục của hai bên tuy có chụm giáp vào nhau, nhưng trước hết là cái bụng của con trai áp lên thân mình người con gái, làm cho người con gái khó chịu, cách cứu giúp cái đó là dùng phép úp phía sau, bảo người con gái chống úp sấp xuống giường như động vật bốn chân, chổng cao cái mông béo lên, con trai quỳ ở sau con gái, dùng tay ôm lấy lưng liễu, từ từ đưa tiến dương vật, mới có thể chìm sâu vào trong lòng âm.

Con trai con gái quá béo, nếu muốn giao tiếp, bảo người con gái nằm ngửa lấy gối kê cao mông lên, mở rộng hai đùi giang ra, người con trai đứng ở trước người con gái, lấy dương vật đưa vào trong cửa mình, có thể tới chỗ sâu.

Người con gái có bộ máy sinh dục mọc ở trong bộ phận cửa mình thấp lõm, nên dùng cách úp đằng sau, bảo người con gái cúi sấp phần thân trên, thành góc vuông với phần thân dưới, và mở rộng hai chân, nam đứng phía sau nữ nạp dương vật vào trong cửa mình, hai bộ máy sinh dục tự nhiên chà xát vào nhau, chen chúc nhau, âm hộ muốn nuốt toàn bộ dương vật.

Giao tiếp khi người con gái có chửa, là phải tránh sức nặng thân thể người con trai đè ép lên trên thân người con gái, lấy cách thức ngồi cứng mà giao tiếp là hợp, tức là cách ngồi bình thường của người con trai, người con gái ngồi cưỡi lên trên đùi người con trai, đem hai cái bụng ngồi đến phía sau bắp vế người con trai, nạp dương vật vào trong cửa mình, nghĩ rằng khó có thể vào sâu được (ngồi cứng là ngồi duỗi kẹp hai chân thẳng về phía trước).

Nếu như gặp người con trai quá béo mà người con gái lại lùn bé, là phải tránh giao tiếp mặt trước, tránh làm cho sức nặng thân mình người con trai đè ép, và cái bụng to làm trở ngại, nên dùng cách nam nằm dưới, nữ ở trên mà giao tiếp. Nếu như người con gái mang thai, lúc đó cũng có thể dùng cách này giao tiếp. Nghĩ rằng khi bình thường sau khi tinh dịch của người con trai bắn vào trong âm đạo, do cửa mình chúc xuống, tinh dịch chảy ra, có thể đã làm giảm bớt cơ hội thụ thai.

Trong thời kỳ người con gái mang thai, sức nặng thân người tăng thêm, vị trí của dạ con có biến động đi, nếu như dùng cách giao tiếp như thường, thì nghiêng về phía người con gái cảm giác không khoái, thậm chí tạo điều kiện làm thành nguy hiểm ngoài ý muốn, lúc này dạ con người con gái trạng thái gập ngược xuống, nên sử dụng cách ngồi giao tiếp.

Dùng cách tập hậu (úp phía sau), rất thích nghi với người con gái có âm hộ mọc thấp. Bảo người con gái thân trên cúi gập xuống, thành góc vuông 50 độ với nửa thân dưới, và mở rộng hai đùi, nam đứng sau người con gái, lấy hai tay ôm vú, nạp dương vật vào trong cửa mình, có thể vào sâu được diệu, mà có sự vui thích của khoái cảm về cái mông béo.

Khi nam nữ giao tiếp tình dục, con gái thường phát triển chậm so với con trai, không có cách cải đổi giao nhanh trong vài ba loại, mà người con gái vẫn không thể ngóc đầu lên để cản ngăn, nếu như không đình chỉ cách đó, quét hết mọi phần hứng thú. Nếu như miễn cưỡng tiến hành, làm việc một cách thô thiển cho xong, hai bên không đến được khoái lạc chân chính, rất ngược lại với quy luật cầu tình của vợ chồng, có thể lấy các phương pháp bổ cứu sau đây.

Khi nam nữ giao tình, tình dục của người con gái làm cho ra phía sau âm hộ và âm đạo ít nước dâm, không đủ làm cho trơn tru dương vật, làm cho rút ra đưa vào khó khăn, có thể bảo người con trai nằm ngửa, ôm người con gái trước ngực, làm cho nửa trên thân người con gái dựa đúng trên người con trai, mở rộng hai đùi, để bắp chân phải của người con gái cưỡi trên ống chân phải của con trai, sau đó dựng thẳng đầu gối bên phải, làm cho âm hộ trương to, để dương vật phía ngoài miệng âm hộ chà xát qua lại, có thể dẫn đến ham muốn mạnh mẽ cho người con gái, âm hộ giãn trương, âm đạo vươn dài ra, dầy ứ huyết dịch, làm cho môi âm rộng lớn, âm hạch giương lên, dâm thủy tự nhiên tuôn tuôn về, làm cho dần dần thấm ướt các vùng của các bộ máy sinh dục, lúc đó dương vật duỗi dài ra, từ từ cắm vào âm đạo, rút ra đưa vào ở âm thần, âm hạch và âm hộ, chờ đợi quy đầu khi đã qua âm thần nhanh chóng ra trơn ấm tự do, lại từ từ tiến về trước, khi dâm thủy ngấm ướt được một nửa dương vật thì có thể thúc tiến toàn bộ dương vật vào, lúc này người con gái ở trên, động tác được lự do hoàn toàn, có thể trồi về trước trụt về sau, làm cho dương vật chà xát hết mức, kể cả vùng của cửa mình. Khi dương vật và âm hộ chà xát nhau như thế, người con gái cảm nhận thấy quy đầu ở trong miệng âm hộ, bật bật lên, mỗi một sợi nhỏ thần kinh cũng căng ra khác thường, kích thích sung sướng tăng, không cách gì chịu nồi, tự nhiên sinh ra rời rã hai đùi, âm hộ trương to, chỉ muốn nuốt chửng cả dương vật, bọc lấy mà rung động không thôi, thấy như hồn tiêu phách lạc, muốn chết muốn sống, đến khi ra tinh mới thôi.

Khi nam nữ giao tiếp, thường thì sự chảy tinh của con gái so với sự chảy tinh của con trai là rất chậm, người con trai để quy đầu cứng rắn ở phía dưới là tiểu âm thần, và khoảng giữa âm hạch, cộng với sự dội lên không dừng của người con gái, làm cho dương vật bị động trơn tuột vào cửa mình, thì cũng là làm cho con gái cảm đến cao trào khoái lạc, ngửa đầu dưới lên mà ra tinh.

Lại có thể sử dụng vùng gốc dương vật để húc vào âm hạch và âm thần mà áp nhanh mạnh, làm cho âm hạch và âm thần do bị áp mạnh nhanh để có cảm giác linh nhậy, mà tăng thêm thâu khoái, người con gái càng lắc kéo vùng mông xoay chuyển vận động, dần dần thêm khoái cảm cao trào, thêm nhanh chảy tinh.

Thỉnh thoảng có người con trai con gái thủ dâm lẫn cho nhau, để mưu toan bổ cứu, tức là người con gái nắm lấy mà nghịch ngợm dương vật người con trai, hoặc con trai vuốt xoa vùng âm của con gái, do đó phát sinh khoái cảm, hiệu lực to lớn khác thường. Bởi vì trai hoặc gái tự mình vuốt ve máy sinh dục của mình cũng có cảm ứng mà không thể vọt lên, rất khó tiết ra dịch của tuyến nhiếp hộ (tuyến bảo vệ), về già làm cho khác tính, hoặc tự mình (ái thê hoặc thụ phu) yêu vợ hoặc bị chồng vuốt ve xong rất dễ tình cảm, mà ảnh hưởng giãn trương vùng âm nước ở nhiếp hộ tuyến chảy ra đầm đìa, lúc đó mà giao tiếp, một phách thì hợp (một nhịp thì kháp).

Lại có người con gái tình dục vượng thịnh, nên làm phép thứ 11 trong ba mươi phép, (không phiên diệp – bướm lợn trên không), và hai cách giao tiếp thứ mười năm, mười sáu trong phần hai tám loại. Do người con trai nằm ngửa, người con gái ở trên nam, làm giao tiếp theo cách cưỡi ngựa, có thể làm cho dương vật vào sâu trong âm đạo, và do người con gái tự chủ tự động, tiến sâu bao bọc khắp và nông thì lay lắc, chà xát, nuốt vào nhổ ra nhanh chậm, đều có thể làm theo ý muốn của mình, mà tiết tấu hoạt động trên cũng rất tiện lợi, dễ thu được tình cảm đậm đà, mỹ mãn, mà đạt được sự yên tâm về cao trào khoái lạc để giải trừ dục hỏa (lửa tình dục).

* Phốc kê tán: Trị con trai ngũ lao thất thương, dương vật mềm không cửng lên được, không thể làm tinh được. Thục Quần Thái Thủ (Thần Kính Đại), tuổi đã 70, uống thuốc này sinh được ba người con trai, uống thuốc này lâu dài, phu nhân bị nhiều tật, trong cửa minh có mụn mẩn, đau đớn không thể nằm ngồi, đem ngay thuốc vãi ra giữa sân, gà trống ăn phải cái đó, nhảy ngay lên lưng gà mái, luôn suốt cả ngày không xuống, mổ ở mào gà mái, làm cho gà mái trọc cả đầu, người đời gọi là “Phốc kê tán”, cũng gọi là “Phốc kê hoàn phương”.

Nhục thung dung    3 phân,

Ngũ vị tử    5 phân.

Thỏ ti tử    2 phân

Viễn chí    4 phân.

Xà sàng tử    3 phân.

Có năm vị, giã rây làm tán, uống hàng ngày vào lúc đói, chiêu xuống bằng rượu, đong bằng phương thốn chủy, ngày uống ba lần, vô địch, không thể uống 60 ngày, có thể ngự bốn mươi người đàn bà, có thể lấy mật trắng làm viên to như hạt ngô đồng, uống 5 viên, ngày hai lần, lấy biết hiệu quả làm mức độ thời gian.

Động Huyền Tử nói: “Phàm dương vật hoặc đâm trái, hoặc đâm phải, nếu mạnh như phá trận, trạng thái đó là một. Hoặc ở bờ trên đột nhiên xuống, như ngựa hoang nhảy qua khe núi, trạng thái đó là hai. Hoặc lộ ra hoặc chim lặn, như bầy chim hải âu trên sóng nước, trạng thái đó là ba. Hoặc nện vào sâu ngoáy ở nông như chim sẻ mổ cối, qua trạng thái đó là bốn. Hoặc xông vào sâu thúc ở nông như hòn đá to ném xuống biển, trạng thái đó là năm. Hoặc từ từ kinh động chậm đẩy, như rắn mùa đông vào hang, trạng thái đó là sáu. Hoặc nhanh theo chiều dọc thúc gấp, như chuột sợ hãi chui qua huyệt, trạng thái đó là bảy. Hoặc đầu bó chân, như con chim ưng xanh đùa giỡn con thỏ gian giảo, trạng thái đó là tám. Hoặc lên đài xuống thấp, như buồm lớn gặp cuồng phong, trạng thái đó là chín”.

Động Huyền Tử nói: “Phàm giao tiếp hoặc đẩy dương vật ở dưới cưa qua cưa lại ở cửa minh, cái thế đó như cắt con trai để mà lấy ngọc sáng, thế đó là một. Hoặc dưới nâng ngọc lý, trên xông kim câu (đường ngọc, rãnh vàng), cái thế đó như cắt đá mà tim ngọc đẹp, thế đó là hai. Hoặc lấy mũi nhọn của dương vật xung nên giã đài ngọc, thế đó giống như là cái gậy sắt cho vào cối thuốc, thế đó là ba. Hoặc lấy dương vật ra vào công kích sang trái, phải khai mở sự hài hòa, thế đó giống như năm cái búa rèn sắt, thế đó là bốn. Hoặc để đầu nhọn dương vật vãng lai, như mài cày ở giữa ruộng thần hang tối, thế đó như nông phu cày vỡ mùa thu, thế đó là năm. Hoặc để huyền viên thiên đinh, hai tướng mài đập, thế đó như hai cái núi lở cùng kính nể nhau, thế đó là sáu.

Động Huyền Tử nói: Phàm khi muốn xuất tinh, tất cần phải đợi người con gái khoái, cùng một lúc chảy tinh với nhau, nam cần rút ra chỗ nông, giữa cầm huyền và mạch xỉ, mũi nhọn của dương vật nông sâu, như trẻ con uống sữa, nhắm ngay mắt nghĩ bên trong, cuống lưỡi xuống ngay thẳng, xương sống dẫn lên đầu, trương mũi nhún vai, ngậm miệng thở hít, tinh tiện tự tiết hạn lên, nhiều ít không biết không do người. Trong mười phần, chỉ được hai ba phần”.

Động Huyền Tử nói: “Phàm muốn cầu con, đợi người con gái hành kinh dứt, sau đó mới giao tiếp, sau một đến ba ngày là con trai, sau bốn đến năm ngày là con gái, sau năm ngày trở đi chỉ tổn tinh lực, cuối cùng là vô ích. Khi giao tiếp chảy tinh ra, đợi người con gái đến khoái, cần cùng nhau chảy ra một lúc, chảy ra phải cho hết, trước hết bảo người con gái nằm ngửa ngay ngắn, trong lòng ngay thẳng một ý, nhắm mắt nghĩ trong lòng là thụ tinh, khí. Theo như Lão Tử nói thi: “Nửa đêm được con là thượng thọ, trước nửa đêm là trung thọ, sau nửa đêm là hạ thọ”.

Phàm sau khi người con gái mang thai, cần làm việc thiện, tránh nhìn ác sắc, không nghe lời ác, giảm dâm dục, không đọc lời chú rủa, không mắng chửi, không kinh khủng, không làm mệt quá, không nói mơ hồ lung tung, không buồn rầu, không ăn thức sống, lạnh, không ăn thức ăn chua, trơn nhẫy, nóng, không ngồi xe ngựa, không lên cao, không ngụp xuống sâu, không trụt xuống dốc, không di nhanh gấp, không ăn uống thuốc, không châm cứu, đều phải lòng ngay thẳng mà chính niệm, thường nghe kinh sách, thành công đó làm cho con trai con gái thông minh trí tuệ, ngay thẳng, thật thà, hiền lương, người ta gọi đó là thai giáo”.

Phốc kê tán

Tán này trị con trai ngũ lao thất thương, dương vật mềm không cửng lên được, không thể làm tình được, Thục Quần Thái Thủ mỗ, tuổi bảy mươi, uống thuốc này mà có được ba người con trai, phu nhân của ông ấy vãi thuốc ra giữa sân, gà trống ăn thuốc đó, tức thì lên lưng gà mái, suốt cả ngày không xuống, mổ ở cái mào gà mái đến trọc đi, người đời gọi là “Phốc kê tán”, cũng gọi là “Phốc kê hoàn phương”.

Thung dung – 3 phân,

Ngũ vị tử – 3 phân,

Xà sàng tử – 4 phân.

Viễn chí – 3 phân,

Thỏ ti tử – 3 phân.

Có năm vị, giã rây làm tán, hàng ngày lúc đói uống xuống với rượu, bằng phương thốn chủy, ngày uống hai, ba lần. Vô dịch, không thể uống 60 ngày, có thể ngự bốn mươi người đàn bà. Lại lấy bạch mật làm viên, như hạt ngô đồng tử, uống 5 viên, ngày hai lần, lấy biết làm mức.

Lộc giác tán

Trị con trai ngũ lao thất thương, dương vật mềm không cửng, đột nhiên gặp con gái, vào làm việc tình chẳng thành, giữa đường chết xỉu, tinh tự dẫn ra, nước tiểu thừa rơi rớt, lưng và thắt lưng đau lạnh. Phương như sau:

Lộc giác,

Bá tử nhân,

Thỏ ti tử,

Xà sàng tử,

Xa tiền tử,

Viễn chí,

Ngũ vị tử,

Thung dung.

Các vị đều    4 phân.

Có 8 vị giã rây làm tán, mỗi lần ăn xong uống 5 phân chủy, ngày ba lần, không thấy rõ hiệu quả thì tăng thêm cả phương thốn.

Trường âm phương

Nhục thung dung 3 phân, Hải tảo 2 phân

Có hai vị giã rây làm mịn, đến tháng giêng trộn với nước ép từ gan chó trắng, đắp lên dương vật ba đợt, sáng hôm sau dội nước rửa đi, dài thêm ngay ba thốn, cực nghiệm.

* Phương chữa cửa mình đàn bà rộng mà lạnh cho nhanh co nhỏ lại để giao tiếp cho khoái:

Thạch lưu hoàng – 2 phân,

Thạch mộc hương – 2 phân.

Sơn thù du    – 2 phân,

Xà sàng tử    – 2 phân.

Có bốn vị, giã rây làm mịn, vào việc giao tiếp, nạp vào trong cửa mình chút ít, không được quá nhiều, sợ lỗ khép lại rất kín.

Phụ

THIÊN ĐỊA ÂM DƯƠNG GIAO HÂN ĐẠI LẠC PHÚ

Phu tính mệnh nhân chi bản, thị dục giả nhân chi lợi, bản tồn lợi tư, mạc thậm hồ y thực, y thực ký túc, mạc quý hồ hoan ngu, kỳ dư quan tước công danh, thực nhân tình chi dã. Phu thê tạo cấu, kỷ vị quần luân chi thiệu, diệc tạo hóa chi đoan. Thiên địa giao tiếp nhi phục tái, nam nữ giao tiếp nhi âm dương thuận, như cố “Trọng Ni” xưng hôn nhân chi đại, suy nhân trứ “Chung tư“ chi thiên, khảo bản tầm căn, bất ly giao hợp dã. Toại tưởng nam nữ chi chí. Hình mạo ban ban chi loại, duyên tình lập nghĩa, nhân tượng thủ ý, ẩn ngụy biến cơ, thời vô bất hữu tận, nan tự dị danh, tịnh tùy âm chú, thủy tự đồng trĩ chi tuế, cửu thập hồ nhân sự chi chung. Tuy tắc ổi đàm, lý biểu giai cảnh, cụ kiến nhân chi sở lạc, mạc lạc thử, sở dĩ danh đại lạc phú. Chí lý tục âm hiệu, nhiếp vô ẩn huý yên. Duy nghênh tiếu nhất thời. Phú viết: “Huyền hóa sơ khai, hồng lô diệu kỳ, thước kình thành kiện, dung nhú chế thư, cấu nam nữ nhi lưỡng thể, phẩm âm dương chi lưỡng nhi, Quan kỳ nam chất ký bẩm, cương nhi lập củ, nữ nhi chất diệc khác thuận nhi thành quy. Phu hoài bão chi thời, tổng giác chi thủy, trùng đới lai tương, hoa xá vương lạc, hốt bì khai nhi dầu xuất, nga nhục á nhi đột khởi, thời thiên tuế cải, thiên tập tập chi điểu mao, nhật vãng nguyệt lai, lưu quyên quyên chi hồng thủy, ký nhi nam kỷ nhược quán, nữ vi tịnh niên, ôm nhu chi dung tự ngọc, kiều tư chi mạo như tiên, anh uy sán lạn, khởi thái quyên quyên, tố thủy tuyết tịnh, phấn cảnh hoa đoàn, đổ ngang tàng chi tài, kỷ chi dĩnh tú, kiến yểu điệu chi chất, tiệm giác trình hiện, thảo mộc phương lệ, vân thủy dung duệ, ngao thái tự hoa, hương phong nhiêu xế, uyên tiếp dực tưởng nam. Phân thốn vi vạn kế, nhiên lãi cầu cát sĩ, vấn lương mu, sơ lục lễ dĩ doanh chỉ, phục bách lạng nhi thỏa lai, ký nạp chứng lưỡng tính, sính giao lễ đồng bôi. U thanh xuân chi dạ. Hồng vĩ chi hạ, quán anh chi tế, hoa tu tưởng ngự, tư tâm…

Người dịch: Lê Văn Sửu

– Hết –

BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Khoản 4 Điều 111 về tội hiếp dâm quy định: Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Mọi hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đều vi phạm vào điều 115 (BLHS) và có thể bị kết án từ 1 đến 15 năm tù tùy theo tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; dù hành vi đó được bị hại đồng ý chấp thuận, cùng thỏa thuận thực hiện chứ không phải vì bị ép buộc, cưỡng bức, đe dọa.

Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live tại khoản 4 Điều 112 Bộ Luật Hình sự về Tội hiếp dâm trẻ em: Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ mười ba tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Tại sao được cho “yêu” vẫn phạm tội “hiếp dâm”?

Những ngày gần đây, trên địa bàn cả nước liên tục có thông tin về những vụ hiếp dâm, cưỡng dâm. Hai loại hình tội phạm này đều là những tội phạm về tình dục, nhưng phân biệt ra sao không phải là việc dễ dàng với nhiều người.

Theo Điều 71 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.”

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều có thể bị xử lý nghiêm minh trước Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ.

Trong đó hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục bị coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể của tội phạm như hành vi, tuổi của người bị hại, tuổi của người thực hiện hành vi,… tội phạm xâm hại tình dục được chia thành các tội danh khác nhau quy định trong Bộ luật Hình sự.

Trong các tội danh được áp dụng cho loại hình tội phạm này, tội hiếp dâm và cưỡng dâm khiến nhiều người khó hiểu về hành vi để phân biệt.

– Theo quy định tội hiếp dâm là tội phạm có cấu thành hình thức, tội phạm có kết cấu bởi một trong các dạng hành vi sau đây:

+ Dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, bóp cổ, giữ, vật lộn, bịt miệng, đánh…nạn nhân. Những hành vi đó nhằm làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân để người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu. Trong thực tế, nếu người phạm tội đã dùng vũ lực làm cho nạn nhân bất tỉnh và giao cấu, đồng thời sau đó để nạn nhân chết (dù không có hành vi dùng vũ lực tiếp theo), người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội giết người. Tương tự như vậy, nếu bằng mọi cách để giao cấu mà người phạm tội đã giết chết nạn nhân rồi sau đó giao cấu với nạn nhân thì người phạm tội sẽ bị truy cứu thêm tội giết người.

+ Đe doạ dùng vũ lực: người phạm tội chưa thực hiện những hành vi dùng vũ lực, chưa có bất kỳ một sự tác động vật chất nào lên người nạn nhân, mà thực hiện các hành vi đe doạ dùng vũ lực nhằm uy hiếp về mặt tinh thần. Sự uy hiếp này mang tính chất mạnh mẽ khiến cho người phụ nữ không dám chống cự, bị tê liệt ý chí và để người phạm tội giao cấu mình.

+ Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: tình trạng này có thể có sẵn ở nạn nhân (nạn nhân bị bệnh động kinh, bệnh tâm thần) hoặc người thứ ba gây ra, hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say xỉn, bị bất tỉnh, bị ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu…).

+ Thủ đoạn khác: là những thủ đoạn ngoài những trường hợp đã phân tích trên đây, như: cho nạn nhân uống thuốc kích thích, lợi dụng sự kém hiểu biết của nạn nhân để dụ dỗ nạn nhân giao cấu. Đây là một quy định mở nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống có hiệu quả hành vi phạm tội hiếp dâm.

Dấu hiệu giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Để xác định việc giao cấu có trái ý muốn của nạn nhân hay không, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố: mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân, thủ đoạn thực hiện tội phạm, hoàn cảnh thực hiện hành vi giao cấu, nhân thân của hai bên, ý kiến của những người xung quanh, hậu quả sau giao cấu để lại…

– Còn đối với tội cưỡng dâm:

Người phạm tội có hành vi ép buộc hoặc bằng những thủ đoạn khác nhau buộc người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng chịu giao cấu với mình. Quan hệ lệ thuộc ở đây có thể là quan hệ lệ thuộc về mặt công tác (như quan hệ lệ thuộc giữa thủ trưởng và nhân viên); về mặt kinh tế (như quan hệ giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng); về mặt tín ngưỡng (cha xứ và con chiên) hay gia đình (cha mẹ và con)…v.v…

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được, mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác (như trường hợp người thân trong gia đình bị mắc bệnh hiểm nghèo khi hoàn cảnh lại đang túng thiếu nghiêm trọng…).

Người phạm tội lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh khó khăn đặc biệt nói trên của người bị hại để khống chế tư tưởng họ, buộc họ phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu. Thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để khống chế người bị hại có thể là đe doạ hoặc hứa hẹn. Người phạm tội có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng ưu thế của mình doạ sẽ gây thiệt hại cho người bị lệ thuộc nếu như không chịu sự giao cấu. Ví dụ, doạ chuyển công tác, doạ không nuôi dưỡng nữa, doạ sẽ nói bí mật…

Cần lưu ý, hành vi đe doạ ở tội cưỡng dâm chưa đến mức làm người bị đe doạ tê liệt ý chí, không dám kháng cự như ở tội hiếp dâm. Người bị đe doạ chỉ bị khống chế tư tưởng; họ vẫn có khả năng phản kháng nhưng đã (miễn cưỡng) chịu sự giao cấu. Người phạm tội cưỡng dâm cũng có thể lợi dụng quan hệ lệ thuộc, lợi dụng uy thế của mình hoặc lợi dụng người khác đang trong tình trạng quẫn bách, hứa hẹn sẽ mang lại một quyền lợi hay một giải pháp nào đó cho người đó thoát khỏi tình trạng đó, nếu họ chịu sự giao cấu.

Sự hứa hẹn phải mang tính chất là một sự khống chế tư tưởng người khác, buộc họ phải miễn cưỡng chấp nhận việc giao cấu. Những trường hợp ép buộc khác không thuộc phạm vi của tội này.

– Đồng thuận vẫn bị kết tội hiếp dâm

Tuy nhiên trên thực tế, cũng có những trường hợp quan hệ có sự đồng thuận nhưng vẫn bị truy cứu về tội danh hiếp dâm. Đó là trường hợp giao cấu với trẻ em. Đã có nhiều phiên tòa diễn ra xét xử đối tượng là người yêu, chồng của các “nạn nhân” trẻ em. Bởi theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ Luật Hình sự về Tội hiếp dâm trẻ em: Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ mười ba tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Khoản 4 Điều 111 về tội hiếp dâm cũng quy định: Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Chia sẻ với PV, luật sư Trần Đình Triển, trưởng văn phòng luật sư Vì dân, Đoàn Luật sư Hà Nội cho biết, theo quy định của Luật Tố tụng Hình sự, hiếp dâm và cưỡng dâm là những tội phạm về tình dục, xâm phạm đến quyền tự do, nhân phẩm, danh dự của người khác. Xét ở một góc độ nào đó thì hai tội phạm này đều trái hoặc không đúng ý muốn về tình dục của người khác.

Theo Điều 111 BLHS thì Hiếp dâm là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”; Cưỡng dâm (Điều 113) là “dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu”.

Sự khác biệt giữa hai tội này là ở đối tượng (nạn nhân). Đối với tội hiếp dâm thì nạn nhân là bất cứ ai, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân phải là người lệ thuộc với người phạm tội hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách.

Hành vi khách quan trong tội hiếp dâm và cưỡng dâm có thể gần giống nhau vì trong tội cưỡng dâm, người phạm tội có thể dùng mọi thủ đoạn như đe dọa, khống chế, thậm chí có thể dùng bạo lực. Chẳng hạn đánh đập người bị lệ thuộc để họ sợ và miễn cưỡng phải giao cấu.

Trong tội hiếp dâm, người phạm tội có thể lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu. Cụ thể nạn nhân có thể là họ đã bị ngất xỉu, bị bỏ thuốc mê, bị bắt trói chân tay… Còn tình trạng quẫn bách của người bị hại (nạn nhân) trong vụ án cưỡng dâm là người bị hại vẫn còn nhận thức được, còn khả năng tự vệ nhưng vì sự lệ thuộc hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách không còn con đường nào khác mà buộc phải giao cấu.

Theo VnMedia

The post Tìm hiểu nội dung và tải miễn phí sách Tố Nữ kinh PDF – Lê Văn Sửu appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/tim-hieu-noi-dung-va-tai-mien-phi-sach-to-nu-kinh-pdf-le-van-suu/feed/ 0
FREE DOWNLOAD PDF Martindale The Complete Drug Reference – cập nhật đầy đủ các phiên bản mới nhất https://hmm88i.com/free-download-pdf-martindale-the-complete-drug-reference-cap-nhat-day-du-cac-phien-ban-moi-nhat/ https://hmm88i.com/free-download-pdf-martindale-the-complete-drug-reference-cap-nhat-day-du-cac-phien-ban-moi-nhat/#respond Tue, 16 Apr 2024 01:45:14 +0000 https://hmm88i.com/?p=24895 Martindale là cuốn sách không xa lạ với dược sĩ, đặc biệt là các dược sĩ Hm8803 hiện đang mở với các thông tin đầy đủ, khách quan và chính xác cách sử dụng thuốc và dược phẩm đang được sử dụng trên toàn thế giới. Để hiểu hơn về cuốn sách này, hãy cùng Vnras tìm […]

The post FREE DOWNLOAD PDF Martindale The Complete Drug Reference – cập nhật đầy đủ các phiên bản mới nhất appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Martindale là cuốn sách không xa lạ với dược sĩ, đặc biệt là các dược sĩ Hm8803 hiện đang mở với các thông tin đầy đủ, khách quan và chính xác cách sử dụng thuốc và dược phẩm đang được sử dụng trên toàn thế giới. Để hiểu hơn về cuốn sách này, hãy cùng Vnras tìm hiểu những tin cụ thể và chi tiết nhất về Martindale trong bài viết này.

Martindale là sách gì?

Martindale được ra mắt đầu tiên vào năm 1883 bởi Sean C Sweetman và các cộng sự, gây được ấn tượng tốt với giới chuyên môn về các thông tin chi tiết các loại thuốc được sử dụng trên Hm8803 hiện đang mở toàn thế giới bao gồm:

Thuốc thảo dược Thuốc bổ sung
Các dưỡng chất Vaccin
Tá dược Dược phẩm
Chất cản quang Chất chẩn đoán
Chất độc hại Khí y tế
Chất khử trùng Thuốc trừ sâu
Các loại thuốc thú y Chất phóng xạ

Martindale chứa đựng thông tin của khoảng 6500 chuyên luận thuốc, 18.500 loại chế phẩm, 54.000 các trích dẫn tham khảo cũng với 20.000 nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến và phân phối đến từ 43 đất nước và lãnh thổ khác nhau. Các thông tin trong cuốn sách này được tổng hợp một cách toàn diện, chuẩn chỉnh, trung thực, có thẩm quyền bởi các dược sĩ và các nhà khoa học giàu kinh nghiệm chuyên môn, các thông tin được đảm bảo chính xác và đáng tin cậy.

Các ưu điểm của cuốn sách Martindale

  • Martindale là nguồn tài liệu tham khảo có phạm vi bao quát và chi tiết đầu tiên và đáng tin cậy.
  • Độ phủ sóng quốc tế của cuốn sách này cũng là một điều đáng đề cập với 43 quốc gia.
  • Martindale bao gồm các thông tin chính xác được dựa trên những thông tin đã được công bố và tham khảo rộng rãi.
  • Theo thường niên, cứ 3 tháng cuốn sách Martindale sẽ được xem xét và cập nhật.

Nội dung của cuốn sách Martindale

Chuyên khảo Nội dung
Chuyên khảo về thuốc và các chất phụ trợ (Monographs on drugs and ancillary substances) Bao gồm 6400 chuyên khảo sắp xếp thành 49 chương khác nhau dựa trên tác dụng điều trị. Trong chuyên khảo này, các thuốc/chế phẩm,… được liệt kê với các nội dung: danh pháp quốc tế, tính chất, tác dụng và cách sử dụng. Một chương trong chuyên khảo nói về các thuốc mới, thuốc khó phân loại, thảo dược và các thuốc không còn ứng dụng trên Hm8803 hiện đang mở nhưng vẫn được quan tâm, ngoài ra còn có thông tin về một số chất độc hại.
Preparations Chứa 125.000 thông tin các sản phẩm/thuốc,.. Đến từ 43 đất nước và lãnh thổ.
Danh mục các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến (Directory of Manufacturers) Bao gồm ~ 25.000 mục.
Thuật ngữ dược phẩm bằng các ngôn ngữ khác nhau (Pharmaceutical Terms in Various Languages) Bao gồm ~ 5.600 thuật ngữ dược phẩm và đường dùng từ 13 ngôn ngữ chính tại Châu Âu.
Chỉ mục chung (General index) Bao gồm ~ 175.000 mục với các nội dung: tên, từ đồng nghĩa, tên hóa học được phê duyệt. Cyrillic là phần riêng biệt để liệt kê các tên độc quyền/không độc quyền bằng tiếng Nga và Ukraina.
Các phiên bản kỹ thuật số sẽ có thêm một số nội dung: 1.000 chuyên khảo về thuốc
100.000 tên chế phẩm
5.000 nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến

Phiên bản Martindale mới nhất – Martindale: The Complete Drug Reference 40th Edition

Martindale: The Complete Drug Reference 40th Edition là phiên bản mới nhất của cuốn sách này, được xuất bản vào tháng 5/2020 bởi nhà xuất bản Pharmaceutical Press. Phiên bản này được xem xét, cập nhật và biên soạn bởi tác giả Robert Buckingham và các cộng sự.
Những cập nhật mới trong phiên bản Martindale 40th này bao gồm:

Chuyên khảo mới
  • Adagrasib là một chất ức chế KRAS được sử dụng để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ KRA
  • Atidarsagene autotemcel là một sản phẩm liệu pháp gen được sử dụng để điều trị bệnh loạn dưỡng bạch cầu dị sắc
  • Bexagliflozin là thuốc ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 được sử dụng trong điều trị đái tháo đường týp 2.
  • Serdexmethylphenidate là tiền chất của dexmethylphenidate được sử dụng dưới dạng clorua, trong sản phẩm kết hợp liều cố định với dexmethylphenidate hydrochloride, để điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý.
  • Teplizumab là một kháng thể đơn dòng được nhân hóa, liên kết với kháng nguyên CD3 trên tế bào lympho T và được sử dụng để trì hoãn sự khởi phát của bệnh đái tháo đường týp 3 giai đoạn 1.
  • Velmanase alfa là nguồn enzyme ngoại sinh, alpha-mannosidase. Nó được sử dụng như liệu pháp thay thế enzyme để điều trị các biểu hiện không liên quan đến thần kinh của bệnh alpha-mannosidosis ở người lớn và trẻ em.
  • Vutrisiran là một axit ribonucleic can thiệp nhỏ sợi đôi được sử dụng trong điều trị bệnh đa dây thần kinh liên quan đến bệnh amyloidosis qua trung gian transthyretin di truyền.
  • Zanubrutinib là một chất ức chế tyrosine kinase của Bruton, được sử dụng trong điều trị bệnh macroglobulinaemia của Waldenström, bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính hoặc u lympho tế bào lympho nhỏ, u lympho vùng biên và u lympho tế bào lớp phủ.
  • Zavegepant là một chất đối kháng thụ thể peptide liên quan đến gen calcitonin (CGRP) được sử dụng trong điều trị cấp tính chứng đau nửa đầu.
  • Muối mới hoặc các dẫn xuất liên quan được thêm vào chuyên khảo hiện có:
  • Indacaterol Acetate (được thêm vào Indacaterol)
Cập nhật có chọn lọc – một số thông tin mới, được xác nhận lại hoặc thay đổi Chuyên khảo:

  • Baricitinib
  • Các loại vắc-xin phòng ngừa covid-19
  • Esketamine hydrochloride
  • Vắc-xin sốt rét

Đánh giá điều trị:

  • COVID-19
  • Tăng oxy niệu nguyên phát
Cập nhật tên, từ đồng nghĩa và mã; tiêu chuẩn chính thức; sự chuẩn bị chính thức ATC và ATCvet 2024
Ph.Eur. 11.0
Các chế phẩm và nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến độc quyền được cập nhật cho các quốc gia và khu vực sau : Argentina
Vương quốc Anh
Hoa Kỳ

 

The post FREE DOWNLOAD PDF Martindale The Complete Drug Reference – cập nhật đầy đủ các phiên bản mới nhất appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/free-download-pdf-martindale-the-complete-drug-reference-cap-nhat-day-du-cac-phien-ban-moi-nhat/feed/ 0
Tải miễn phí sách Nam Dược Thần Hiệu bản PDF – Danh y Tuệ Tĩnh https://hmm88i.com/tai-mien-phi-sach-nam-duoc-than-hieu-ban-pdf-danh-y-tue-tinh/ https://hmm88i.com/tai-mien-phi-sach-nam-duoc-than-hieu-ban-pdf-danh-y-tue-tinh/#respond Fri, 15 Mar 2024 09:55:43 +0000 https://hmm88i.com/?p=24880 Nam Dược Thần Hiệu là bộ y thư nổi tiếng được soạn bởi Danh y Tuệ Tĩnh – người có công rất lớn trong sự phát triển của nền y học nước nhà. Bộ sach y khoa này được biên soạn thành 11 quyển ghi chép cụ thể dược tính của 119 vị thuốc nam […]

The post Tải miễn phí sách Nam Dược Thần Hiệu bản PDF – Danh y Tuệ Tĩnh appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Nam Dược Thần Hiệu là bộ y thư nổi tiếng được soạn bởi Danh y Tuệ Tĩnh – người có công rất lớn trong sự phát triển của nền y học nước nhà. Bộ sach y khoa này được biên soạn thành 11 quyển ghi chép cụ thể dược tính của 119 vị thuốc nam và các bài thuốc cụ thể tương ứng với 10 khoa bệnh.

Giới thiệu về Danh y Tuệ Tĩnh

Tên thật của Tuệ Tĩnh là Nguyên Bá Tĩnh và sau này lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh (Cũng có thể gọi là Huệ Tĩnh) khi đi tu.

Ông vốn xuất thân từ Nghĩa Lư – Dạ Cẩm – Hồng Châu, hiện nay là thôn Nghĩa Phú – Cẩm Vũ – Cẩm Bình – Hải Dương trong một gia đình bần nông. Danh y Tuệ Tĩnh có mẹ là Hoàng Thị Ngọc, cha là Nguyễn Công Vỹ.

Hình ảnh Danh y Tuệ Tĩnh
Hình ảnh Danh y Tuệ Tĩnh

Theo truyền thuyết, ông sinh trưởng vào khoảng thế kỷ thứ XIV dưới thời vua Trần Dụ Tông. Năm 6 tuổi, ông mồ côi cha mẹ và được nhận nuôi bởi một nhà sư ở chùa Hải Triều – Yên Trang.

Năm 10 tuổi, Tuệ Tĩnh được cho đi học với nhà sư ở chùa Dũng Nhuệ. Ở đây, ông được gọi với cái tên thân thuộc là Tiểu Huệ, biệt danh Huệ Tĩnh cũng được xuất phát từ đây. Đây chính là nơi dạy cho ông những kiến thức nền tảng đầu tiên về thuốc.

Năm 22 tuổi, ông trúng bằng trong kỳ thi hương.

Năm 30 tuổi, ông về chùa Yên Trang là trụ trì và huấn luyện y học cho tăng ni.

Năm 45 tuổi, ông đậu Hoàng giáp trong kỳ thi đình.

Năm 55 tuổi, sau khi bị bắt sang Trung Quốc, nhờ kiến thức y học chuyên sâu của mình làm ông được giữ làm trong Viện Thái y dưới thời nhà Minh. Sau đó, ông mất ở đây không rõ thời gian nào.

Sự nghiệp

Về Phật học: Sách Thiền tông khóa hư lục soạn bởi vua Trần Thái Tông được ông dùng chữ Nôm để giải thích lại.

Về Y học, ông soạn ra nhiều tập sách về y học nổi tiếng như Thập tam phương gia giảm, Dược tính chỉ nam. Tuy nhiên, do chiến tranh nên nguyên tác của nhiều tập sách đã không còn trọn vẹn. Nhiều tác phẩm hiện còn lưu truyền đến thời nay đều đã được biên tập lại bởi người đời sau. Bao gồm:

  1. Bộ Nam dược thần hiệu: Biên tập bởi Hòa thượng Bản Lai, sau đó đến năm 1761 được bổ sung và in lại bao gồm Bản thảo dược tính 499 vị, 10 khoa Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ, chữa 184 loại bệnh với 3932 bài thuốc nam và có cả Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ cho gia súc.
  2. Nam dược chỉnh bản sau này đến năm 1717 được đổi tên là Hồng Nghĩa giác tư y thư dưới thời vua Lê Dụ Tông.
  3. Thập tam phương gia giảm.

Tuệ Tĩnh chính là người đã đặt những nền móng đầu tiên trong việc sử dụng thuốc nam để Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ với phương châm là “Thuốc nam Việt chững người Nam Việt”.

Tuệ Tĩnh đã xây dựng được một tập quán lưu truyền lâu đời trong nhân dân đó là các gia đình tự trồng các cây thuốc trong vườn và giúp mọi người ít nhiều biết đến những bài thuốc chữa các bệnh thường gặp từ những loại rau quả, gia vị thân thuộc trong gia đình.

Để tri ân những đóng góp vĩ đại của ông trong sự nghiệp y học nước nhà, nhân dân đã lập đền thờ tưởng nhớ ông tại quê nhà. Bộ văn Hóa cũng đã công nhận di tích này là di tích lực sử để tôn vinh những đóng góp của ông với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Giới thiệu về sách Nam Dược Thần Hiệu – Danh y Tuệ Tĩnh

Hình ảnh sách Nam Dược Thần Hiệu
Hình ảnh sách Nam Dược Thần Hiệu

Nam dược thần hiệu là bộ sách về y học của danh y Tuệ Tĩnh đến nay đã được bổ sung, in lại nhiều lần.

Với chủ trương của Đảng và Nhà Nước là tiếp tục kế thừa những giá trị tinh học y học cổ truyền đồng thời kết hợp với những tiến bộ của y học hiện đại, bản dịch của Bộ sách Nam dược thần hiệu đã được xuất bản năm 1960 và đến năm 1972 được tái bản lại nhằm mục đích để làm tài liệu tham khảo Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ cho nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Bộ sách này nêu ra những cách xét bệnh để có thể tìm ra được nguyên nhân gây bệnh. Sau đó khả sát dược tính để có thể đưa ra được những vị thuốc Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ thích hợp. Các bài thuốc được ghi chép lại trong bộ sách được góp nhặt từ nhiều phương thuốc bí truyền trong khắp thiên hạ. Sau đó được ôn cất công đến tận nơi lấy về dùng thử lâu ngày để kiểm chứng công hiệu. Khoogn ngờ cuối cùng cũng tích góp được đến 500 phương thuốc.

Trong sách có đề cập đến 2 khái niệm là “Kinh trị” và “Truyền trị”. Cụ thể:

  • Kinh trị là thu thập những bài thuốc Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ dựa trên kinh nghiệm.
  • Truyền trị là thu thập những phương pháp được truyền miệng lại trong các gia đình.

Các bài thuốc có trong sách Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ ưu tiên sử dụng thảo dược, cây cỏ nên thường là những bài thuốc đơn giản, sử dụng lý luận thông thường để mọi người có thể tự chuẩn và trị được bệnh.

Chính những bài thuốc được ghi lại trong các tác phẩm nổi tiếng của Tuệ Tĩnh đã giúp người dân vượt qua được rất nhiều đợ dịch thảm khốc như vụ dịch năm 1533; dịch thổ tả, sốt rét năm 1574 ở Thái Nguyên.

Nội dung của sách Nam Dược Thần Hiệu

Nội dung của sách Nam Dược Thần Hiệu
Nội dung của sách Nam Dược Thần Hiệu

Bộ sách Nam Dược Thần Hiệu gồm 11 quyển, trong đó quyển đầu tiên ghi chép cụ thể về dược tính 119 vị thuốc nam và 10 quyển còn lại ghi chép chi tiết về từng khoa trị bệnh. Tên gọi của mỗi quyển cụ thể như sau:

Quyển đầu: Tên gọi, vị khí và chủ trị của các vị thuốc nam.

Quyển I: Các bệnh trúng.

Quyển II: Các bệnh về khí.

Quyển III: Các bệnh xuất huyết.

Quyển IV: Các bệnh có đau.

Quyển V: Các bệnh không đau.

Quyển VI: Các bệnh chín khiếu.

Quyển VII: Các bệnh nội nhân.

Quyển VIII: Các bệnh phụ khoa.

Quyển IX: Các bệnh nhi khoa.

Quyển X: Các bệnh ngoại khoa.

Đọc và tải sách Nam Dược Thần Hiệu bản PDF miễn phí

Đọc và tải bản pdf miễn phí của tác phẩm Nam Dược Thần Hiệu tại đây

The post Tải miễn phí sách Nam Dược Thần Hiệu bản PDF – Danh y Tuệ Tĩnh appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/tai-mien-phi-sach-nam-duoc-than-hieu-ban-pdf-danh-y-tue-tinh/feed/ 0
Free Download PDF Dược điển Quốc tế mới nhất – International Pharmacopoeia https://hmm88i.com/free-download-pdf-duoc-dien-quoc-te-moi-nhat-international-pharmacopoeia/ https://hmm88i.com/free-download-pdf-duoc-dien-quoc-te-moi-nhat-international-pharmacopoeia/#respond Wed, 06 Dec 2023 12:33:29 +0000 https://hmm88i.com/?p=24724 Dược điển Quốc tế (International Pharmacopoeia) bao gồm một tập hợp các quy trình được khuyến nghị để phân tích và các thông số kỹ thuật để xác định dược phẩm (hoạt chất dược phẩm), tá dược và dạng bào chế. Bài viết dưới đây, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ giới thiệu đến bạn […]

The post Free Download PDF Dược điển Quốc tế mới nhất – International Pharmacopoeia appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Dược điển Quốc tế (International Pharmacopoeia) bao gồm một tập hợp các quy trình được khuyến nghị để phân tích và các thông số kỹ thuật để xác định dược phẩm (hoạt chất dược phẩm), tá dược và dạng bào chế. Bài viết dưới đây, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ giới thiệu đến bạn đọc những thông tin cần thiết Dược điển Quốc tế (International Pharmacopoeia)

Giới thiệu về Dược điển Quốc tế

Dược điển Quốc tế (International Pharmacopoeia) bao gồm một tập hợp các quy trình được khuyến nghị để phân tích và các thông số kỹ thuật để xác định “dược phẩm” (hoạt chất dược phẩm), tá dược và “dạng bào chế” (các văn bản chung và các sản phẩm dược phẩm thành phẩm riêng lẻ) nhằm mục đích làm nguyên liệu nguồn. để tham khảo hoặc điều chỉnh bởi bất kỳ Quốc gia Thành viên nào của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mong muốn thiết lập các yêu cầu về dược phẩm. Dược điển hoặc bất kỳ phần nào của dược điển sẽ có tư cách pháp lý bất cứ khi nào cơ quan có thẩm quyền quốc gia hoặc khu vực đưa nó vào luật pháp phù hợp một cách rõ ràng. Giải thích thêm về vai trò của Dược điển Quốc tế được cung cấp trong phần có tiêu đề “Phạm vi và chức năng”.

Dược điển Quốc tế dựa trên lời khuyên và quyết định của Ủy ban Chuyên gia của WHO về Tiêu chuẩn Chế phẩm Dược phẩm (ECSPP). Tất cả các thông số kỹ thuật có trong Phiên bản thứ tám này đã được phát triển theo quy trình tham vấn của WHO và được ECSPP thông qua.

Lịch sử

Lịch sử phát triển
Lịch sử phát triển

Khi nhu cầu chuẩn hóa, chỉ định liều lượng và thành phần của thuốc ngày càng được chú trọng thì vào năm 1874, Dược điển Quốc tế chính thức được ra đời.

Ấn bản đầu tiên được xuất bản vào năm 1951 (Tập I) và sau đó tập 2 được xuất bản vào năm 1955.

Mục đích: Cung cấp một danh sách thống nhất để hạn chế tình trạng nhầm lẫn bởi các tiêu chuẩn dược điển ở các quốc gia khác nhau.

Mục đích của Dược điển Quốc tế

Sự phát triển và phạm vi của Dược điển Quốc tế

WHO, các quốc gia thành viên và ủy ban chuyên gia đã làm việc cùng nhau để biên soạn Dược điển Quốc tế. Để tạo ra các tiêu chuẩn chất lượng, các ủy ban này cung cấp kiến ​​thức và kinh nghiệm khoa học của họ. Phạm vi dược phẩm của Dược điển Quốc tế bao gồm tá dược, hoạt chất dược phẩm (API), thành phần thảo dược và dược phẩm hoàn chỉnh.

Thúc đẩy sức khỏe cộng đồng

Bằng cách đảm bảo thuốc tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng cao, Dược điển Quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe cộng đồng. Nó cung cấp các hướng dẫn về kiểm soát chất lượng dược phẩm, giúp tạo ra các loại thuốc an toàn và hiệu quả. Các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến dược phẩm có thể cải thiện chất lượng và tính nhất quán của hàng hóa cũng như bảo vệ sức khỏe cộng đồng bằng cách tuân theo các hướng dẫn được nêu trong Dược điển Quốc tế.

Tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế

Để tạo thuận lợi cho việc buôn bán thuốc trên phạm vi quốc tế, các tiêu chuẩn dược phẩm phải được hài hòa. Các cơ quan quản lý và nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến dược phẩm trên toàn thế giới sử dụng Dược điển Quốc tế làm tài liệu tham khảo chung. Quá trình đăng ký và Chào mừng đến với Mh88 thuốc được đơn giản hóa khi các quốc gia khác nhau áp dụng các tiêu chuẩn giống nhau vì nó loại bỏ nhu cầu thử nghiệm và đánh giá bổ sung.

Hài hòa và hợp tác

Dược điển Quốc tế khuyến khích các cơ quan quản lý hợp tác và chung sức hơn trong việc đánh giá và kiểm soát dược phẩm. Khả năng của các cơ quan quản lý trong việc truyền đạt thông tin và hợp tác nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả của thuốc được cải thiện bằng cách hài hòa các tiêu chuẩn và quy trình thử nghiệm.

Cơ chế cập nhật cho phần thuốc phóng xạ trong Dược điển Quốc tế

Giới thiệu

Phù hợp với đề xuất sửa đổi quy trình phát triển, chuyên khảo và các văn bản khác của Dược điển Quốc tế, tương tự những thay đổi đã được thực hiện đối với cơ chế cập nhật cho phần thuốc phóng xạ trong Dược điển Quốc tế (được xuất bản dưới dạng Phụ lục 1 trong báo cáo thứ 48 của Chuyên gia Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Tùy thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực cần thiết, Ban Thư ký nhằm mục đích xuất bản các chuyên khảo hoặc văn bản chung đã được thông qua để đưa vào Hiệp hội Quốc tế Dược điển (Ph.Int.) sau mỗi cuộc họp của Ủy ban Chuyên gia WHO về thông số kỹ thuật cho chế phẩm dược phẩm. Những thay đổi trong quy trình cho cập nhật phần về dược phẩm phóng xạ phản ánh cách tiếp cận mới này.

Cơ chế cập nhật chuyên mục thuốc phóng xạ

Dựa trên quy trình chính thức để phát triển các chuyên khảo để đưa vào Ph.Int. như được nêu trong Chuỗi Báo cáo Kỹ thuật của WHO, Số 992, 2015 (Phụ lục 1), quá trình sau đây đã được xây dựng để đáp ứng mục đích cụ thể của việc phát triển và cập nhật các thông số kỹ thuật của dược phẩm phóng xạ, một dự án chung được thực hiện bởi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và WHO, phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Châu Âu (CoE) và các bên khác mong muốn tham gia.

Giai đoạn 1: Xác định đặc điểm kỹ thuật dược phẩm phóng xạ cụ thể cần được sửa đổi và/hoặc phát triển trong cuộc họp chung của IAEA, các chuyên gia của WHO và CoE, sau khi được IAEA và WHO xác nhận. Xác định các chuyên gia về dược phẩm phóng xạ để xem xét tài liệu và đề xuất bổ sung, xóa bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp. Bao gồm và cập nhật kế hoạch làm việc hiện tại trên Ph.Int. trang web cho phù hợp.

Giai đoạn 2: Xác định thông tin về các thông số kỹ thuật có sẵn trong Dược điển Châu Âu, các dược điển khác và các dược điển hạt nhân nguồn tài nguyên thuốc. Sắp xếp chuẩn bị các bản thảo chuyên khảo.

Công việc này, được IAEA hỗ trợ, sẽ được thực hiện bởi các chuyên gia riêng lẻ và tư vấn thông qua các hợp đồng nghiên cứu và/hoặc tư vấn hỗ trợ các cuộc họp. IAEA nên mời các chuyên gia phù hợp có kinh nghiệm về dược điển để tăng cường quá trình này.

Giai đoạn 3: Gửi dự thảo thông số kỹ thuật cho Cán bộ kỹ thuật của IAEA và các thành viên của Hội đồng tư vấn chuyên gia của WHO về Dược điển quốc tế và chế phẩm dược phẩm và các chuyên gia; cung cấp bản thảo về Ph.Int. trang web ở phù hợp với Ủy ban Chuyên gia của WHO về Thông số kỹ thuật đối với Chế phẩm dược phẩm và quy trình tư vấn của IAEA.

Giai đoạn 4: WHO chuyển tiếp mọi phản hồi nhận được cho IAEA để xem xét của các chuyên gia IAEA.

Giai đoạn 5: Nếu có thể, hãy thảo luận những ý kiến ​​nhận được trong quá trình thực hiện quá trình tham vấn với các chuyên gia IAEA, các phòng thí nghiệm hợp đồng và, nếu phù hợp, với Tài liệu tham khảo hóa học quốc tế Trung tâm giám sát Tiêu chuẩn (ICRS) (sự sắp xếp này sẽ được xác nhận bởi Tổng cục Châu Âu về Chất lượng Thuốc & HealthCare (EDQM)) và một cơ quan chuyên môn, nếu cần thiết (để được xem xét thêm với IAEA và EDQM).

Giai đoạn 6: Truyền đạt kết quả đánh giá của IAEA cho WHO

Giai đoạn 7: Tái bản dự thảo chuyên khảo để lấy ý kiến ​​như giai đoạn 3.

Giai đoạn 8: Lặp lại Giai đoạn 3‒7 cho đến khi dự thảo đã thống nhất phù hợp với yêu cầu.

Giai đoạn 9: Trình bày bản dự thảo cho Ủy ban Chuyên gia của WHO về Thông số kỹ thuật cho các chế phẩm dược phẩm dùng chính thức. Nếu không được thông qua, hãy lặp lại Giai đoạn 3‒7 thường xuyên nếu cần. Nếu dự thảo được thông qua, hãy chuyển sang Giai đoạn 10.

Giai đoạn 10: Kết hợp tất cả những thay đổi đã được thống nhất trong quá trình thảo luận dẫn đến việc áp dụng cùng với bất kỳ chỉnh sửa biên tập nào.

Giai đoạn 11: Trong mọi trường hợp, xác nhận văn bản sửa đổi bằng thư từ với các chuyên gia IAEA trước khi đưa nó lên Ph.Int. trang web hoặc xuất bản nó trong một ấn bản mới hoặc phần bổ sung của Dược điển quốc tế.

Giai đoạn 12: Đưa văn bản đã được thông qua vào Dược điển Quốc tế.

Tải miễn phí PDF Dược điển Quốc tế – International Pharmacopoeia (11th Edition) 2022 Free Download

Dược điển Quốc tế 2022
Dược điển Quốc tế 2022

Phiên bản mới, có tính ràng buộc về mặt pháp lý tại 39 quốc gia Châu Âu kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2023 và được áp dụng tại hơn 130 quốc gia trên toàn thế giới .

Liên tục được cập nhật và hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu của người dùng. 

Phiên bản thứ 11 (bao gồm Phần bổ sung 11.3) của Ph. Eur. chứa:

  • 2497 chuyên khảo (bao gồm cả dạng bào chế);
  • 389 văn bản tổng quát (bao gồm cả chuyên khảo tổng quát và phương pháp phân tích) và khoảng 2890 mô tả về thuốc thử.

Các văn bản mới và sửa đổi được giới thiệu cho

  • 16 chuyên khảo về dược chất,
  • 10 chuyên khảo về dạng bào chế (chế phẩm dược phẩm),
  • 3 phương pháp phân tích, 
  • 3 chuyên khảo chung về dạng bào chế.

Danh sách các văn bản mới, sửa đổi và bỏ qua được cung cấp dưới dạng phụ lục cho lời nói đầu của Phiên bản thứ 11.

Tải miễn phí PDF Dược điển Quốc tế – International Pharmacopoeia (10th Edition) 2020 Free Download

Thông báo chung (bao gồm thông tin về bảo quản, độ ổn định, ghi nhãn, nhận dạng, xét nghiệm & xét nghiệm, độ chính xác và độ chụm, tính toán kết quả, tạp chất, chất đối chiếu,…)

Phụ lục của các Thông báo chung chữ viết tắt và ký hiệu.

Đơn vị đo.

Tên, ký hiệu và khối lượng nguyên tử tương đối của một số nguyên tố.

Chuyên khảo

Dược phẩm.

Dạng bào chế.

Dược phẩm phóng xạ.

Phương pháp phân tích

Phương pháp lý hóa.

Phương pháp hóa học.

Phương pháp sinh học.

Phương pháp nguyên liệu có nguồn gốc Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live.

Quy trình kỹ thuật dược phẩm.

Quang phổ tham chiếu hồng ngoại.

Thuốc thử, dung dịch thử và dung dịch định mức.

Thông tin bổ sung.

The post Free Download PDF Dược điển Quốc tế mới nhất – International Pharmacopoeia appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/free-download-pdf-duoc-dien-quoc-te-moi-nhat-international-pharmacopoeia/feed/ 0
Tải miễn phí PDF Dược Điển Mỹ mới nhất – United State Pharmacopeia PDF https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-my-moi-nhat-united-state-pharmacopeia-pdf/ https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-my-moi-nhat-united-state-pharmacopeia-pdf/#comments Wed, 06 Dec 2023 00:43:31 +0000 https://hmm88i.com/?p=24718 Dược điển là một bản tóm tắt hoặc tập hợp thông tin về thuốc. USP là một trong những dược điển được Hoa Kỳ xuất bản hàng năm. Trong bài viết này, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ gửi đến bạn đọc những thông tin cần thiết Giới thiệu về Dược điển Hoa Kỳ (USP) […]

The post Tải miễn phí PDF Dược Điển Mỹ mới nhất – United State Pharmacopeia PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Dược điển là một bản tóm tắt hoặc tập hợp thông tin về thuốc. USP là một trong những dược điển được Hoa Kỳ xuất bản hàng năm. Trong bài viết này, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ gửi đến bạn đọc những thông tin cần thiết

Giới thiệu về Dược điển Hoa Kỳ (USP)

Dược điển là một bản tóm tắt hoặc tập hợp thông tin về thuốc. USP là một trong những dược điển được Hoa Kỳ xuất bản hàng năm. Thương hiệu và bản quyền của Dược điển Hoa Kỳ thuộc sở hữu của một tổ chức phi lợi nhuận có tên là Pharmacopoeial Convention (còn gọi là USP). Phiên bản đầu tiên của USP được xuất bản vào năm 1820 và khoảng 43 phiên bản đã được xuất bản kể từ đó. Phiên bản mới nhất của USP được xuất bản vào năm 2023.

Dược điển Mỹ được xuất bản kết hợp với Danh mục thuốc Quốc gia để tạo thành USP-NF.

Lịch sử ra đời của Dược điển Mỹ

Lịch sử ra đời của Dược điển Mỹ
Lịch sử ra đời của Dược điển Mỹ

USP là dược điển của Mỹ được chính thức thành lập vào năm 1820 bởi 11 bác sĩ. 

Các bác sĩ này đã tiến hành thực hiện các phương pháp điều trị cho bệnh nhân, giúp bệnh nhân tránh khỏi những sản phẩm kém chất lượng.

Ngành công nghiệp dược phẩm ngày càng phát triển, các tiêu chuẩn trong Dược điển Mỹ cũng thay đổi để phù hợp hơn, nhằm đánh giá độ tinh khiết và chất lượng của thuốc.

Nguồn gốc của dược điển thực sự kéo dài từ thế kỷ 15. Lodvice dal Pozzo Toschanelli là một bác sĩ ở Florence, Ý. Ông đã viết một “cuốn sách nhỏ về công thức thuốc” cho các dược sĩ địa phương, những người muốn có thông tin về tiêu chuẩn chất lượng của các liệu pháp điều trị bằng thuốc. Tất nhiên, cuốn sách nhỏ này sẽ tiếp tục đặt ra các tiêu chuẩn về sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới trong một vài thế kỷ – và hơn thế nữa.  

Trong những năm đầu ở Mỹ, ý tưởng ban đầu của Toschanell có vẻ hơi khác một chút. Nó đã biến thành một loạt “cuốn sách về ma túy” với những tiêu chuẩn khác nhau đến khó hiểu. Do đó, vào năm 1820, một số bác sĩ đã thành lập một nhóm dựa trên mối quan tâm của họ xung quanh chất lượng và tính nhất quán của các loại thuốc theo những biến thể đa dạng của sách thuốc. Nhóm này tiếp tục xuất bản USP đầu tiên, chứa công thức của 217 loại thuốc. Những loại thuốc này được cho là được hiểu rõ nhất và được thiết lập tại thời điểm xuất bản.

68 năm sau, vào năm 1888, Hiệp hội Dược phẩm Hoa Kỳ đã thành lập Danh mục Thuốc Quốc gia (NF), tương tự như USP và xuất bản cả công thức cũng như hướng dẫn pha chế không chính thức cho nhiều loại sản phẩm được bán phổ biến.

Mặc dù các bộ tiêu chuẩn này đã tồn tại nhưng chúng không được thực thi bởi bất kỳ cơ quan quản lý nào cho đến năm 1906 với việc thông qua Đạo luật Thực phẩm và Dược phẩm Liên bang. Đạo luật này cho phép thực thi các tiêu chuẩn USP và NF làm bằng chứng cho thấy thuốc không bị pha tạp chất theo luật liên bang. 

Đạo luật Liên bang về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1938 sẽ mở rộng vai trò của các tiêu chuẩn USP và NF để bao gồm việc trình bày sai về sản phẩm thông qua việc đặt tên không độc quyền.

Cùng với nhau, USP và NF đã cung cấp hướng dẫn vững chắc cho ngành dược phẩm. Năm 1975, USP mua lại NF và kết hợp các ấn phẩm thành một: Dược điển Hoa Kỳ – Danh mục Thuốc Quốc gia (USP-NF). 

Năm 2006, USP đã mua lại Bộ luật Hóa chất Thực phẩm (FCC), đây là cuốn sách quy định các tiêu chuẩn chất lượng đối với các thành phần thực phẩm như hương liệu, chất ổn định và chất tạo màu. Hiện tại, FCC không có sự xem xét liên bang giống như USP-NF, nhưng nó vẫn được sử dụng làm điểm tham chiếu cho các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến để đảm bảo họ đang sử dụng các thành phần chất lượng và tuân theo các phương pháp thực hành chung tốt nhất. 

Dược điển được sử dụng để làm gì?

Các ấn bản của Dược điển Mỹ
Các ấn bản của Dược điển Mỹ

Mục đích của USP là “xây dựng niềm tin ở những lĩnh vực quan trọng nhất: đối với các loại thuốc, thực phẩm bổ sung và thực phẩm trên thế giới”. Họ thực hiện điều này bằng cách hợp tác chặt chẽ với các cơ quan chính phủ, các bộ và cơ quan quản lý trên toàn thế giới để giúp cung cấp các tiêu chuẩn về nhận dạng, sức mạnh, chất lượng và độ tinh khiết có thể giúp bảo vệ nguồn cung cấp thuốc, thực phẩm bổ sung và thành phần thực phẩm trên toàn cầu.

Hiện nay, USP-NF có hơn 6.800 chuyên khảo cho cả sản phẩm không kê đơn và sản phẩm kê đơn, thiết bị y tế, thực phẩm bổ sung và các sản phẩm liên quan đến chăm sóc sức khỏe khác. USP-NF được sửa đổi và tái xuất bản hàng năm. Để theo kịp thời đại, nó không còn chỉ tồn tại dưới dạng một cuốn sách nhỏ mà thay vào đó là trực tuyến, ổ đĩa flash và bản in. Hiện tại cũng có bản dịch tiếng Tây Ban Nha và họ đang nghiên cứu các ngôn ngữ bổ sung. 

USP được thành lập bởi các bác sĩ tình nguyện nhằm mục đích cải thiện chất lượng chăm sóc cung cấp cho bệnh nhân và nó tiếp tục hoạt động theo những nguyên tắc đó. Họ dựa vào các tình nguyện viên cống hiến thời gian của mình cho Hội đồng chuyên gia cũng như các Ủy ban và Hội đồng chuyên gia khác nhau để cải thiện USP-NF. Họ cống hiến hết mình cho một quy trình công khai và minh bạch.

Quá trình này tạo ra các tiêu chuẩn dựa trên cơ sở khoa học được toàn thế giới tin cậy. Những tiêu chuẩn này áp dụng cho thuốc, thành phần thực phẩm và thực phẩm bổ sung. USP cũng nỗ lực thúc đẩy việc áp dụng và sử dụng các tiêu chuẩn này thông qua nhiều hoạt động, chẳng hạn như các sáng kiến ​​an toàn công cộng, chương trình xác minh, chương trình giáo dục và các sáng kiến ​​hỗ trợ toàn cầu.  

Tương lai của USP và USP-NF là gì?

Đã hoạt động được khoảng 200 năm, USP không còn xa lạ với sự đổi mới và thay đổi. Họ nỗ lực liên tục cải tiến và khám phá các công nghệ mới, cũng như xem xét tác động của những tiến bộ này đối với các tiêu chuẩn chất lượng.

USP đang hợp tác với nhiều tổ chức, học giả và nhà nghiên cứu để hình dung ra tương lai của chất lượng trong y học. Một ví dụ là Hm88i.com Sòng bài trực tuyến hàng loạt.

Trong khi nhiều nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến dược phẩm đang áp dụng Hm88i.com Sòng bài trực tuyến liên tục như một phương tiện hướng tới sự linh hoạt và hiệu quả hơn, USP đang kiểm tra các cách mà công nghệ có thể đáp ứng những nhu cầu này đối với dược phẩm. Để làm được điều này, họ đã đưa ra Sáng kiến ​​Sản xuất Dược phẩm Liên tục (PCM).

Một ví dụ khác mà họ đưa ra là khám phá các công nghệ mới trong y học đang thay thế thuốc điều trị một số tình trạng nhất định, như chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) và phụ thuộc vào chất gây nghiện. Để đạt được kết quả tích cực, bệnh nhân sẽ sử dụng ứng dụng thay vì dùng thuốc. FDA đã phê duyệt một số liệu pháp này cho nhiều tình trạng mãn tính.

USP đã làm việc với Liên minh Trị liệu Kỹ thuật số để tổ chức một cuộc thảo luận bàn tròn với các chuyên gia và các công ty hàng đầu trong lĩnh vực này. Cuộc trò chuyện này nhằm mục đích khám phá cách áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng để duy trì tính chính trực.

Trách nhiệm

Nó có trách nhiệm xây dựng niềm tin vào việc cung cấp thuốc an toàn và chất lượng.

Nó cũng thiết lập các tiêu chuẩn tham khảo bằng văn bản và vật lý cho thuốc, thành phần thực phẩm, sản phẩm ăn kiêng bổ sung và các thành phần khác.

USP thường được xuất bản dưới dạng tập kết hợp với Danh mục thuốc Quốc gia là USP – NF. 

Các tiêu chuẩn của cả thuốc dành cho người và động vật đều được quy định trong USP và những tiêu chuẩn này có vai trò trong luật liên bang Hoa Kỳ.

Nó chỉ đưa ra các tiêu chuẩn tóm tắt về nồng độ, chất lượng và độ tinh khiết của thuốc hoặc thành phần chứ không có vai trò thực thi các tiêu chuẩn của nó. Việc thực thi các tiêu chuẩn này là trách nhiệm của USFDA và các cơ quan chính phủ khác của Hoa Kỳ.

Tầm quan trọng của Dược điển Hoa Kỳ

Bất kỳ thành phần thuốc nào không tuân thủ các tiêu chuẩn do USP đặt ra đều bị coi là bị ô nhiễm và thường không được USFDA chấp nhận để sử dụng cho người hoặc động vật. 

Các cơ quan quản lý và các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến khác thường sử dụng các tiêu chuẩn để đảm bảo rằng sản phẩm có nhận dạng, độ bền, độ tinh khiết, chất lượng và tính nhất quán phù hợp.

Tất cả các loại thuốc kê đơn và không kê đơn bán ở Mỹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn công cộng – NF. 

Chất lượng và độ tinh khiết của các thành phần thực phẩm như chất bảo quản, hương liệu, chất tạo màu và chất dinh dưỡng được thiết lập theo tiêu chuẩn Codex Hóa chất Thực phẩm (FCC). FCC là một phần trong tiêu chuẩn của USP đối với thành phần thực phẩm.

Các sản phẩm bổ sung chế độ ăn uống có nhãn “Sản phẩm được xác minh USP” đã được thử nghiệm đặc biệt. Những sản phẩm này khác với những sản phẩm chỉ được dán nhãn “USP”, tuân thủ các tiêu chuẩn USP như nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến đã công bố.

USP cũng đã hợp tác với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) để giúp các nước đang phát triển giải quyết các vấn đề nghiêm trọng liên quan đến thuốc kém chất lượng ở hơn 35 quốc gia.

Nội dung

USP – NF chứa hơn 4500 chuyên khảo về các sản phẩm kê đơn và không kê đơn, thực phẩm bổ sung và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe khác.

Dược điển Hoa Kỳ được in thành ba tập. Tập đầu tiên chứa các chương chung, trong khi tập thứ hai và thứ ba chứa các chuyên khảo.

Hơn 14 phụ lục thường có trong USP. Chúng chứa thông tin liên quan đến thiết bị được sử dụng để kiểm tra và xét nghiệm, kiểm tra vật lý và hóa học, xét nghiệm enzyme, kiểm tra vi sinh, chất gây ô nhiễm trong thực phẩm, hóa chất tạo hương vị và dấu hiệu để kiểm tra tính xác thực.

Các cơ quan quản lý quốc tế và cơ quan lập pháp tại hơn 140 quốc gia sử dụng tiêu chuẩn USP – NF để đảm bảo chất lượng thuốc được Hm88i.com Sòng bài trực tuyến hoặc xuất khẩu sang quốc gia của họ.

Tổng quan về các chuyên khảo USP

Dược điển Hoa Kỳ – Danh mục Thuốc Quốc gia (USP-NF) bao gồm hơn 5000 tiêu chuẩn chất lượng cho thuốc, cả hóa học và sinh học; thành phần dược phẩm hoạt động (API); và tá dược (thành phần không có hoạt tính). Đây là nguồn toàn diện nhất về tiêu chuẩn chất lượng thuốc trên thế giới. Các tiêu chuẩn trong USP-NF được sử dụng để giúp đảm bảo chất lượng thuốc và thành phần của thuốc cũng như bảo vệ sự an toàn của bệnh nhân.

USP là tiêu chuẩn chất lượng chính thức cho thuốc được bán trên thị trường Hoa Kỳ. Ngoài ra, USP còn được sử dụng tại hơn 140 quốc gia trên toàn thế giới và được tích hợp vào luật pháp của hơn 40 quốc gia.

USP-NF bao gồm ba loại tiêu chuẩn chất lượng đối với thuốc theo toa:

  • Các chuyên khảo nêu rõ những kỳ vọng về chất lượng đối với một loại thuốc bao gồm đặc tính, sức mạnh, độ tinh khiết và hiệu quả của nó. Họ cũng mô tả các thử nghiệm để xác nhận rằng một loại thuốc và các thành phần của nó đáp ứng các tiêu chí này.
  • Các Chương Chung cung cấp thông tin có thể áp dụng rộng rãi cho ngành về các quy trình, thử nghiệm và phương pháp được chấp nhận để hỗ trợ phát triển và Hm88i.com Sòng bài trực tuyến sản phẩm cho các loại thuốc cải tiến, thuốc gốc và thuốc sinh học tương tự.
  • Các tiêu chuẩn tham chiếu vật liệu được sử dụng cùng với các chuyên khảo và các chương chung để xác minh rằng thuốc và các thành phần của nó có thể vượt qua các cuộc kiểm tra để đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về chất lượng.

Nội dung chính

Chuyên khảo là một tài liệu bằng văn bản phản ánh các thuộc tính chất lượng của thuốc đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA Hoa Kỳ) phê duyệt. Một số thuộc tính này bao gồm:

Danh tính –  Các thử nghiệm để xác định rằng một chất cụ thể có phải là loại thuốc mà nó tuyên bố hay không.

Độ mạnh –  Phương pháp thử nghiệm và phạm vi chấp nhận được đối với hiệu lực của thuốc, như được phản ánh trong sự chấp thuận của FDA. Ví dụ: điều này cho biết lượng API trong một loại thuốc.

Độ tinh khiết –  Thông tin về các tạp chất có thể có trong thuốc và số lượng được phép, cùng với các phương pháp thử nghiệm để xác định và đo lường chúng. Tạp chất là bất kỳ thành phần nào trong API hoặc dạng bào chế thành phẩm không phải là sản phẩm mong muốn hoặc các thành phần công thức khác. Mức vượt quá có thể gây lo ngại về an toàn cho bệnh nhân.

Hiệu suất –  Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để dự đoán và chứng minh cách thức thuốc sẽ được giải phóng khi đi vào cơ thể con người.

Các chuyên khảo nêu rõ những kỳ vọng về chất lượng. Việc tuân thủ chuyên khảo không chứng minh được tính tương tự sinh học hoặc khả năng thay thế lẫn nhau, cũng không phải là giấy phép để tiếp thị một loại thuốc. Sự chấp thuận, tính tương tự sinh học và khả năng thay thế lẫn nhau được xác định bởi FDA Hoa Kỳ.

Quá trình phát triển

Việc phát triển một chuyên khảo thường bắt đầu vài năm trước khi thuốc gốc mất đi sự bảo hộ bằng sáng chế. Trong hầu hết các trường hợp, người giữ giấy phép cho một loại thuốc sẽ cộng tác với Ủy ban Chuyên gia USP có liên quan để phát triển chuyên khảo theo một quy trình minh bạch. Chuyên khảo này có thể được sửa đổi khi các sản phẩm tiếp theo (ví dụ: thuốc gốc, thuốc sinh học tương tự) được FDA chấp thuận.

Ủy ban chuyên gia USP bao gồm các chuyên gia khoa học từ học viện, ngành công nghiệp và cộng đồng người hành nghề chăm sóc sức khỏe. Các thành viên ủy ban chuyên môn không được trả thù lao. Họ tình nguyện dành thời gian và công việc của mình. Các chuyên gia của FDA tham gia vào từng ủy ban chuyên gia thiết lập tiêu chuẩn với tư cách là liên lạc viên của chính phủ.

Sự xuất bản

Chuyên khảo USP sẽ được cung cấp công khai sau khi bảo vệ bằng sáng chế của thuốc hết hạn và sau khi hoàn thành quy trình minh bạch bao gồm nhiều cơ hội đóng góp ý kiến ​​từ các bên liên quan.

USP là dược điển độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ duy nhất trên thế giới.

USP đặt ra các tiêu chuẩn về chất lượng, độ tinh khiết, sức mạnh và nhận dạng cho thuốc, thành phần thực phẩm và thực phẩm bổ sung. Chúng tôi đạt được điều này thông qua việc xuất bản các tiêu chuẩn tài liệu (còn được gọi là chuyên khảo) trong văn bản tham chiếu chính của chúng tôi, USP-NF và  bằng cách phát triển Tiêu chuẩn tham chiếu USP (còn được gọi là tiêu chuẩn vật lý)— được các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến sử dụng để kiểm tra sản phẩm của họ theo các tiêu chuẩn của chúng tôi nhằm đảm bảo chúng đáp ứng các thông số kỹ thuật đã công bố.

Nhiều tiêu chuẩn của chúng tôi được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thực thi theo luật pháp Hoa Kỳ, nhưng tư cách độc lập có nghĩa là các hoạt động thiết lập tiêu chuẩn của chúng tôi chỉ được hướng dẫn bởi bằng chứng khoa học, khách quan, thực nghiệm và các mối lo ngại về sức khỏe cộng đồng.

Tải miễn phí USP 2023 PDF (United State Pharmacopeia 46 – NF 41) – Dược Điển Mỹ PDF

USP 2021 (United State Pharmacopeia 46 – NF 41) là sự hợp nhất của hai bản tóm tắt khác nhau bao gồm USP United States Pharmacopeia và NF (FORMULARY National).

Chuyên khảo bao gồm:

  • Định nghĩa.
  • Nhận biết.
  • Phân tích.
  • Tạp chất.
  • Một số xét nghiệm cụ thể.
  • Yêu cầu bổ sung.

Tải miễn phí USP 2021 PDF (United State Pharmacopeia 44 – NF 39) – Dược Điển Mỹ PDF

USP 2021 (United State Pharmacopeia 44 – NF 39) là sự hợp nhất của hai bản tóm tắt khác nhau, USP United States Pharmacopeia & NF (FORMULARY National).

Tải miễn phí United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF

USP 2018 (United State Pharmacopeia 41 – NF 36) là sự hợp nhất của hai bản tóm tắt khác nhau, USP United States Pharmacopeia & NF (FORMULARY National).

Download Free United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF tập 1 .

Download Free United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF tập 2 .

Download Free United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF tập 3 .

Download Free United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF tập 4 .

Download Free United State Pharmacopoeia 2020 USP 43 – NF 38 PDF tập 5 .

The post Tải miễn phí PDF Dược Điển Mỹ mới nhất – United State Pharmacopeia PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-my-moi-nhat-united-state-pharmacopeia-pdf/feed/ 2
Tải miễn phí PDF Dược Điển Anh 2023 mới nhất – British Pharmacopoeia 2023 PDF https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-anh-2023-moi-nhat-british-pharmacopoeia-2023-pdf/ https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-anh-2023-moi-nhat-british-pharmacopoeia-2023-pdf/#respond Tue, 05 Dec 2023 15:06:50 +0000 https://hmm88i.com/?p=24706 Dược điển Anh đầu tiên được xuất bản vào năm 1864. Nó được biên soạn bởi một ủy ban bao gồm các thành viên của hội đồng và được chia thành ba tiểu ban làm việc riêng biệt ở London, Edinburgh và Dublin. Bài viết dưới đây, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ cung cấp […]

The post Tải miễn phí PDF Dược Điển Anh 2023 mới nhất – British Pharmacopoeia 2023 PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Dược điển Anh đầu tiên được xuất bản vào năm 1864. Nó được biên soạn bởi một ủy ban bao gồm các thành viên của hội đồng và được chia thành ba tiểu ban làm việc riêng biệt ở London, Edinburgh và Dublin. Bài viết dưới đây, Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết và link tải miễn phí Dược điển Anh mới nhất

Giới thiệu

Dược điển Anh đầu tiên được xuất bản vào năm 1864. Nó được biên soạn bởi một ủy ban bao gồm các thành viên của hội đồng và được chia thành ba tiểu ban làm việc riêng biệt ở London, Edinburgh và Dublin. Một phần quan trọng của dược điển bao gồm các phụ lục trong đó trình bày các phương pháp thử nghiệm chung. Việc sửa đổi phần này chủ yếu được thực hiện bởi các ủy ban về phương pháp phân tích chung và xét nghiệm sinh học, trong khi phần thứ ba đề cập đến thuốc thử và cung cấp thông số kỹ thuật cho phần lớn các chất và vật liệu được sử dụng trong các thử nghiệm và xét nghiệm, theo đó các tiêu chuẩn của dược điển sẽ được thực hiện. phụ thuộc. Lợi ích của việc phát hành một phụ lục là bao gồm các sửa đổi đối với các chuyên khảo đã có trong dược điển. Trong các dược điển trước đây của Anh, các chuyên khảo tập trung nhiều hơn vào các giai đoạn chuẩn bị của các loại thuốc được mô tả trong đó hơn là việc kiểm tra sản phẩm cuối cùng. Danh tính và chất lượng của các thành phần đã được xác định rõ ràng, tỷ lệ pha trộn của chúng đã được cố định và quy trình bào chế dược phẩm được mô tả cẩn thận. Ủy ban hiện nhằm mục đích cung cấp các thông số kỹ thuật áp dụng cho thuốc tại thời điểm chúng được giao cho bệnh nhân.

Lịch sử và các ấn bản của Dược điển Anh

Các ấn bản của Dược điển Anh
Các ấn bản của Dược điển Anh

Dược điển Anh được xuất bản thay mặt cho Bộ trưởng Y tế Vương quốc Anh; theo khuyến nghị của Ủy ban Thuốc cho Con người.

Vào năm 1864, Dược điển Anh đầu tiên được xuất bản bằng cách kết hợp ba Dược điển cũ và có uy tín là Dược điển Londinensis (1618), Dược điển Edinburgh (1699) và Dược điển Dublin (1807). Các ấn bản và phụ lục mới được phát hành nhanh chóng. Ấn bản thứ 2 được phát hành vào năm 1867. Ấn bản thứ 3 và thứ 4 được xuất bản lần lượt vào năm 1885 và 1898. Phụ lục của phiên bản thứ 2 và thứ 3 được phát hành lần lượt vào năm 1874 và 1890.

Các phần riêng biệt như pha chế các hợp chất được đưa vào Dược điển Anh năm 1864. Theo thông lệ của một số Dược điển khác trong ấn bản Dược điển Anh này, nội dung đã được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. Một lỗ hổng trong việc sửa đổi đã xuất hiện muộn hơn ấn bản tiếp theo của Dược điển Anh cho đến tận năm 1914.

Ở Anh, người ta nhận ra rằng độ phức tạp về mặt kỹ thuật của các thông số kỹ thuật của thuốc ngày càng tăng và cần có một kiểu thiết lập khác để chuẩn bị Dược điển sau khi Dược điển Anh xuất bản 1914. Do đó, ấn bản tiếp theo được xuất bản vào năm 1928 và 1932. Sau đó, sau ủy ban được đề nghị sửa đổi Dược điển Anh mười năm một lần .

Một loạt các tài liệu chẩn đoán đã được đưa vào bản sửa đổi năm 1932. Một bổ sung quan trọng là đưa vào các tiêu chuẩn và xét nghiệm kháng độc tố và insulin. Bảy phụ lục bao gồm thời gian tạm thời từ năm 1932 đến ấn bản tiếp theo năm 1948. Trong ấn bản năm 1948 này (lần thứ 7), đối với các chất mới được đưa vào y học, tên gốc đã được cung cấp. Các phương pháp phân tích như thử nghiệm độ rã của viên nén và phương pháp khử trùng được mở rộng. Nhiều chuyên khảo mới liên quan đến hormone giới tính và penicillin đã được đưa vào. Do sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ dược phẩm vào thời điểm này, người ta đã quyết định rằng khoảng cách bình thường giữa các lần xuất bản mới là năm thay vì mười năm.

Ấn bản tiếp theo được phát hành vào năm 1953. Trong ấn bản Dược điển Anh này, tên thuốc và chế phẩm được viết bằng tiếng Anh thay vì tiếng Latin. Tiêu đề tiếng Latin viết tắt được giữ lại làm từ đồng nghĩa. Viên nang, được cấu thành như một nhóm công thức mới và các phương pháp cấy ghép hormone giới tính cũng như các tiêu chuẩn của chúng cũng được mô tả trong ấn bản này. Ấn bản lần thứ 9 (1958) có 160 chuyên khảo mới. Phân tích quang phổ và bao gồm các loại thuốc an thần là những tính năng khác của phiên bản này. Ấn bản thứ mười tiếp theo được xuất bản vào năm 1963.

Nhiệm vụ của Ủy ban Dược điển Anh được xác định rõ ràng trong Đơn đặt hàng thuốc năm 1970. Ấn bản đầu tiên của Dược điển Anh được chuẩn bị nghiêm ngặt theo các quy định của Đạo luật Thuốc là ấn bản thứ mười ba được xuất bản vào năm 1980. Do sự mở rộng thông tin về thuốc sau này Dược điển Anh được quyết định xuất bản thành hai tập.

Tiêu chuẩn có thẩm quyền về chất lượng của nhiều chế phẩm và vật phẩm được sử dụng trong y học và dược phẩm trong khoảng 130 năm đã được đưa ra trong ấn bản năm 1993 của Dược điển Anh. Để thuận tiện cho người sử dụng, ấn bản này hợp nhất và mở rộng ấn bản 1988 với các phụ lục năm 1989, 1991 và 1992. Hơn nữa, các chuyên khảo của Dược điển Châu Âu cũng được đưa vào ấn bản đặc biệt này.

Dược điển Anh 2013 bao gồm sáu tập với gần 3.000 chuyên khảo về dược chất, tá dược và bào chế, cùng với các thông báo chung, phụ lục (phương pháp thử, thuốc thử,…) và quang phổ tham chiếu được sử dụng trong thực hành y học. Tất cả đều được lập chỉ mục toàn diện và tham khảo chéo để dễ dàng tham khảo. Các mặt hàng được sử dụng riêng trong thuốc thú y ở Anh đều được bao gồm trong BP (Thú y).

Tập I và II đề cập đến các dược chất, trong khi tập III mô tả về các chế phẩm có công thức, các chế phẩm liên quan đến máu, các sản phẩm miễn dịch, các chế phẩm dược phẩm phóng xạ, vật liệu phẫu thuật và các chế phẩm vi lượng đồng căn. Tập IV chứa các phụ lục, phổ hồng ngoại và chỉ số tham chiếu. Tập V dành cho mục đích thú y, tức là Dược điển Anh (Thú y). Tập VI là phiên bản CD-ROM của Dược điển Anh, Dược điển Anh (Thú y) và các tên được phê duyệt của Anh.

Ấn bản Dược điển Anh năm 2013 có sẵn dưới dạng bản in và bản điện tử ở cả phiên bản trực tuyến và CD-ROM, các sản phẩm điện tử sử dụng các kỹ thuật tìm kiếm phức tạp để định vị thông tin một cách nhanh chóng

Bộ Dược điển Anh 2013 bao gồm năm tập Dược điển Anh 2013 và một tập Dược điển Anh (Thú y) 2013, cùng với một đĩa CD-ROM có thể tìm kiếm đầy đủ và truy cập trực tuyến cung cấp các tài nguyên linh hoạt.

Dược điển Anh 2013 có hiệu lực pháp lý từ ngày 1 tháng 1 năm 2013 và bao gồm 41 chuyên khảo Dược điển Anh mới, 40 chuyên khảo Dược điển Châu Âu mới, 619 chuyên khảo sửa đổi, 6 phổ tham chiếu hồng ngoại mới và 1 sửa đổi và tài liệu Phiên bản thứ 7 Dược điển Châu Âu cho đến và bao gồm cả Phụ lục 7.5. Ngoài ra, các bản cập nhật vào tháng 1, tháng 4 và tháng 7 để hài hòa với Dược điển Châu Âu cũng được cung cấp.

Cách sử dụng

BP là bộ sưu tập toàn diện duy nhất các tiêu chuẩn chính thức có thẩm quyền dành cho các dược phẩm và sản phẩm thuốc của Vương quốc Anh. Nó chứa tất cả các văn bản và chuyên khảo của Dược điển Châu Âu (được gắn biển hiệu với một chuỗi các ngôi sao), cũng như các tiêu chuẩn quốc gia do BP phát triển.

Hướng dẫn này được thiết kế để giúp bạn làm quen hơn với các yêu cầu của BP, nơi tìm các loại thông tin khác nhau và cách áp dụng chuyên khảo về chuẩn bị theo công thức.

Nếu sản phẩm thuốc được cấp phép ở quốc gia nơi BP là tiêu chuẩn hợp pháp:

  • Sản phẩm phải có khả năng tuân thủ các yêu cầu của BP bất cứ lúc nào trong suốt thời hạn sử dụng.
  • Sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn của BP bất kể việc tuân thủ BP có được tuyên bố hay không hoặc nó không được gọi bằng tên ở đầu chuyên khảo.

Để một sản phẩm thuốc tuân thủ chuyên khảo của BP:

  • Chuyên khảo có hiệu lực tại thời điểm Hm88i.com Sòng bài trực tuyến sản phẩm phải được áp dụng, ví dụ BP 2019 có hiệu lực Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019. Ngày có hiệu lực có thể được tìm thấy trong phần Giới thiệu của BP.
  • Tất cả các thành phần (thuốc và tá dược) được sử dụng để tạo ra sản phẩm phải tuân thủ BP hoặc Ph. Eur đã được công bố. chuyên khảo về các chất đó.
  • Sản phẩm phải tuân thủ các chuyên khảo chung có liên quan.
  • Sản phẩm phải tuân thủ các yêu cầu của chuyên khảo đối với chế phẩm có công thức.

Nội dung

Giới thiệu

Bản sơ bộ (Tập I của bản cứng) bao gồm một số văn bản thông tin, bao gồm Phần giới thiệu trình bày chi tiết về các chuyên khảo mới, được sửa đổi và bỏ qua trong bất kỳ ấn bản cụ thể nào của BP, ngày có hiệu lực pháp lý và bản cập nhật về các hoạt động nổi bật của BP.

Thông báo chung

Thông báo chung chứa thông tin áp dụng cho tất cả các văn bản trong BP và là thông tin cần thiết để đọc. Các thông báo chung giải thích những tuyên bố nào là bắt buộc và không bắt buộc cũng như định nghĩa của các điều khoản. Chúng có thể được tìm thấy trong BP trực tuyến bằng cách sử dụng ‘Mục lục’ hoặc theo liên kết ‘Thông báo chung’ trong chuyên khảo (các trang màu hồng trong tất cả các tập của bản in).

Chuyên khảo: Thuốc và Dược chất

Chuyên khảo: Dược liệu (Tập I và II bản cứng) gồm chuyên khảo về hoạt chất dược chất và tá dược.

Các chế phẩm được bào chế: Chuyên khảo tổng quát

Tất cả các sản phẩm dược phẩm phải tuân thủ các chuyên khảo chung về chế phẩm dược phẩm và dạng bào chế (sản phẩm cũng phải tuân thủ chuyên khảo về chế phẩm cụ thể nơi chuyên khảo đó được xuất bản). Những điều này được tìm thấy trong Các chế phẩm có công thức: Chuyên khảo tổng quát trực tuyến (Tập III của bản cứng).

Các chế phẩm được bào chế: Chuyên khảo cụ thể

Có thể tìm thấy các chuyên khảo về các công thức thuốc cụ thể, kết hợp các loại thuốc phân tử nhỏ, thuốc sinh học và thuốc không có giấy phép trong phần này của BP trực tuyến (Tập III của bản cứng). Có thể tìm thấy lời giải thích chi tiết hơn về chuyên khảo BP chuẩn bị theo công thức trong phần tiếp theo của hướng dẫn này.

Thuốc thảo dược, chế phẩm thuốc thảo dược và sản phẩm thuốc thảo dược / Nguyên liệu dùng trong Hm88i.com Sòng bài trực tuyến chế phẩm vi lượng đồng căn / Sản phẩm liên quan đến máu / Sản phẩm miễn dịch / Chế phẩm dược phẩm phóng xạ / Vật liệu phẫu thuật

Tất cả các chuyên khảo liên quan đến thuốc thảo dược và vi lượng đồng căn, các sản phẩm liên quan đến máu, sản phẩm miễn dịch và vắc xin, dược phẩm phóng xạ và vật liệu phẫu thuật, có thể được tìm thấy từ phần liên quan trong mục lục trực tuyến (Tập IV của bản cứng).

Quang phổ tham chiếu hồng ngoại

Có mối liên hệ với quang phổ tham chiếu hồng ngoại có liên quan trong các chuyên khảo chuẩn bị công thức (Tập V của bản cứng). Việc xác định sự phù hợp của phổ IR được giải thích trong Thông báo chung.

Phụ lục

Các Phụ lục (Tập V của bản cứng) bao gồm các phương pháp phân tích và yêu cầu hiệu chuẩn đối với kỹ thuật phân tích (Ph. Eur. phần 2), các văn bản liên quan đến thùng chứa (Tiến sĩ Eur. phần 3), thuốc thử và chuẩn bị dung dịch thể tích (Ph. Eur. phần 4) và phần lớn các văn bản chung của Ph. Eur phần 5. Khi một phụ lục được tham chiếu trong một chuyên khảo, các yêu cầu của phụ lục đó là bắt buộc trừ khi có quy định khác. Trang Văn bản tương đương của Dược điển Châu Âu tương quan với Ph. Eur. văn bản vào phần tham khảo Phụ lục của BP.

Chương bổ sung

Các chương bổ sung chứa thông tin và hướng dẫn không bắt buộc. Nếu bạn cần lời khuyên để hiểu bài kiểm tra hoặc tính toán kết quả trong BP, các chương bổ sung có thể chứa thông tin bạn đang tìm kiếm (Tập V bản cứng).

Dược điển Anh (Thú y)

BP (Vet) bao gồm các phần được mô tả ở trên dành cho dược phẩm và dược phẩm chỉ được sử dụng trong thú y (Tập VI của bản cứng).

Phạm vi hoạt động

Được sử dụng ở hơn 100 quốc gia.

Tạo thành một phần vốn có của Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ về thuốc đã được thiết lập ở các quốc gia Khối thịnh vượng chung.

Cung cấp lời khuyên chuyên môn cho Dược điển Châu Âu và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập tiêu chuẩn ở Châu Âu.

Cung cấp lời khuyên chuyên môn cho Tổ chức Y tế Thế giới.

Có mối liên kết chặt chẽ với các dược điển hàng đầu thế giới, đảm bảo chất lượng thuốc luôn được đặt lên hàng đầu trong các cuộc thảo luận quốc tế.

Tải miễn phí Dược điển Anh 2023 PDF – British Pharmacopoeia 2023

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2023 – Dược điển Anh 2023 chuyên luận từ A – G tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2023 – Dược điển Anh 2023 chuyên luận từ H – L tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2023 – Dược điển Anh 2023 chuyên luận từ M – Z tại đây.

Tải miễn phí Dược điển Anh 2022 PDF – British Pharmacopoeia 2022

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2022 – Dược điển Anh 2022 tập 1 .

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2022 – Dược điển Anh 2022 tập 2 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2022 – Dược điển Anh 2022 tập 3 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2022 – Dược điển Anh 2022 tập 4 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2022 – Dược điển Anh 2022 tập 5 tại đây.

Tải miễn phí Dược điển Anh 2020 PDF – British Pharmacopoeia 2020

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2020 – Dược điển Anh 2020 tập 1 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2020 – Dược điển Anh 2020 tập 2 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2020 – Dược điển Anh 2020 tập 3 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2020 – Dược điển Anh 2020 tập 4 tại đây.

Free Download PDf British Pharmacopoeia 2020 – Dược điển Anh 2020 tập 5 tại đây.

Tải miễn phí Dược điển Anh 2016 PDF – British Pharmacopoeia 2016

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2016 – Dược điển Anh 2016 tập 1 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2016 – Dược điển Anh 2016 tập 2 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2016 – Dược điển Anh 2016 tập 3 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2016 – Dược điển Anh 2016 tập 4 tại đây.

Tải miễn phí Dược điển Anh 2015 PDF – British Pharmacopoeia 2015

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2015 – Dược điển Anh 2015 tập 1 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2015 – Dược điển Anh 2015 tập 2 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2015 – Dược điển Anh 2015 tập 3 tại đây.

Free Download PDF British Pharmacopoeia 2015 – Dược điển Anh 2015 tập 4 tại đây.

The post Tải miễn phí PDF Dược Điển Anh 2023 mới nhất – British Pharmacopoeia 2023 PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/tai-mien-phi-pdf-duoc-dien-anh-2023-moi-nhat-british-pharmacopoeia-2023-pdf/feed/ 0
Đọc online và tải miễn phí PDF Dược Điển Ấn Độ mới nhất – Indian Pharmacopoeia https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-an-do-moi-nhat-indian-pharmacopoeia/ https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-an-do-moi-nhat-indian-pharmacopoeia/#respond Mon, 04 Dec 2023 11:47:42 +0000 https://hmm88i.com/?p=24692 Dược điển Ấn Độ (IP) được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) thay mặt cho Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k & Phúc lợi Gia đình, HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á Ấn Độ nhằm đáp ứng các yêu cầu của Đạo luật Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1940 và Quy tắc 1945 theo đó. Bài viết […]

The post Đọc online và tải miễn phí PDF Dược Điển Ấn Độ mới nhất – Indian Pharmacopoeia appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Dược điển Ấn Độ (IP) được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) thay mặt cho Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k & Phúc lợi Gia đình, HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á Ấn Độ nhằm đáp ứng các yêu cầu của Đạo luật Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1940 và Quy tắc 1945 theo đó. Bài viết dưới đây, Dược sĩ Lưu Văn Hoàng sẽ cung cấp những thông tin về Dược điển Ấn Độ và link tải miễn phí

Dược Điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) là gì?

Dược điển Ấn Độ (IP) được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) thay mặt cho Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k & Phúc lợi Gia đình, HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á Ấn Độ nhằm đáp ứng các yêu cầu của Đạo luật Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1940 và Quy tắc 1945 theo đó.

Dược điển Ấn Độ (IP) được công nhận là cuốn sách tiêu chuẩn chính thức cho các loại thuốc được Hm88i.com Sòng bài trực tuyến và/hoặc tiếp thị ở Ấn Độ. IP chứa một tập hợp các quy trình phân tích và thông số kỹ thuật có thẩm quyền của thuốc về nhận dạng, độ tinh khiết và nồng độ của chúng. Các tiêu chuẩn của IP có tính chất có thẩm quyền và được các cơ quan quản lý thực thi để đảm bảo chất lượng thuốc ở Ấn Độ. Trong quá trình đảm bảo chất lượng và tại thời điểm tranh chấp tại tòa án, các tiêu chuẩn IP được chấp nhận về mặt pháp lý.

Tầm nhìn

Thúc đẩy các tiêu chuẩn cao nhất về thuốc sử dụng cho người và động vật trong giới hạn thực tế của các công nghệ sẵn có để Hm88i.com Sòng bài trực tuyến và phân tích.

Sứ mệnh

Tăng cường sức khỏe cộng đồng và sức khỏe động vật ở Ấn Độ bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn có thẩm quyền và được chấp nhận chính thức về chất lượng thuốc bao gồm hoạt chất dược phẩm, tá dược và dạng bào chế được các chuyên gia y tế, bệnh nhân và người tiêu dùng sử dụng.

Lịch sử của Dược điển Ấn Độ (IP)

Các phiên bản của Dược điển Ấn Độ
Các phiên bản của Dược điển Ấn Độ

Lịch sử của IP bắt đầu vào năm 1833 khi một ủy ban của Phòng khám của Công ty Đông Ấn đề xuất xuất bản Dược điển và Dược điển Bengal và Tổng quan về cây thuốc được xuất bản vào năm 1844, trong đó chủ yếu liệt kê hầu hết các phương thuốc bản địa thường được sử dụng. Tiếp theo là IP 1868, bao gồm cả thuốc trong Dược điển Anh (BP) 1867 và thuốc bản địa được sử dụng ở Ấn Độ, với phần bổ sung được xuất bản năm 1869 kết hợp tên bản địa của thuốc và Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live bản địa. Tuy nhiên, từ năm 1885 BP đã được chính thức công nhận ở Ấn Độ. Một Ủy ban Điều tra Thuốc được chính phủ bổ nhiệm vào năm 1927 đã khuyến nghị xuất bản Dược điển Quốc gia.

Sau khi giành được độc lập, Ủy ban Dược điển Ấn Độ được thành lập vào năm 1948 để công bố IP là chức năng chính của mình. Các ấn bản Dược điển Ấn Độ như sau:

Dược điển Ấn Độ 1955 – Ấn bản đầu tiên, tiếp theo là phần bổ sung năm 1960;

Dược điển Ấn Độ 1966 – Tái bản lần thứ hai, tiếp theo là phần bổ sung năm 1975;

Dược điển Ấn Độ 1985 – Phiên bản thứ ba, tiếp theo là phụ lục năm 1989 và 1991;

Dược điển Ấn Độ 1996 – Phiên bản thứ tư, tiếp theo là phụ lục 2000, phụ lục 2000 về Sản phẩm Thú y, phụ lục 2002 và phụ lục 2005;

Dược điển Ấn Độ 2007 – Phiên bản thứ năm, tiếp theo là phụ lục 2008;

Dược điển Ấn Độ 2010 – Sáu ấn bản kèm DVD kèm theo phụ lục năm 2012;

Dược điển Ấn Độ 2014 – Phiên bản thứ bảy có DVD, tiếp theo là phụ lục 2015 và phụ lục 2016;

Dược điển Ấn Độ 2018 với DVD – Phiên bản thứ tám

Dược điển Ấn Độ 2022 – Phiên bản thứ chín

Các ấn bản của Dược điển Ấn Độ (IP)

Năm 1955, ấn bản đầu tiên của ủy ban Dược điển Ấn Độ dưới sự chủ trì của Tiến sĩ BN Ghosh đã được xuất bản.

Nó được viết bằng tiếng Anh và tiêu đề chính thức của các chuyên khảo được ghi bằng tiếng Latin. 

1960 – Phần bổ sung cho ấn bản này được xuất bản.

Năm 1966 Ấn bản thứ hai của IP được xuất bản dưới sự chủ trì của Tiến sĩ B. Mukherji.

Nhan đề chính thức của các chuyên khảo được viết bằng tiếng Anh. 

Liều lượng được biểu thị bằng hệ mét. 

Công thức thuốc được đưa ra ngay sau chuyên khảo thuốc. 

1975 – Phần bổ sung cho ấn bản này được xuất bản. 

Năm 1985, ấn bản thứ ba của IP được xuất bản với hai tập và chín phụ lục. 

261 chuyên khảo mới đã được bổ sung. 

Phụ lục I của IP được xuất bản năm 1989, trong đó có 46 chuyên khảo mới được bổ sung và 126 chuyên khảo được sửa đổi. 

Phụ lục II được xuất bản năm 1991, trong đó có 62 chuyên khảo mới được bổ sung và 110 chuyên khảo được sửa đổi. 

Năm 1996, ấn bản thứ tư của IP được xuất bản dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Nityanand.

Nó có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 1996. 

Nó bao gồm 1149 chuyên khảo và 123 phụ lục. 

Bao gồm 294 chuyên khảo mới và 110 chuyên khảo đã bị xóa bỏ. 

Phụ lục I có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2000, trong đó có 42 chuyên khảo mới được bổ sung. 

Phụ lục II có hiệu lực từ ngày 30 tháng 6 năm 2003 với 19 chuyên khảo mới được bổ sung. 

Phần bổ sung thú y của IP 1996 bao gồm 208 chuyên khảo và 4 phụ lục.

Năm 2007, ấn bản thứ năm của IP được xuất bản và phần phụ lục của ấn bản này được xuất bản vào năm 2008. 

IP 2007 được trình bày thành ba tập. 

Tập một chứa các thông báo chung và các chương chung. 

Tập hai và tập ba chứa các chuyên khảo tổng quát về dược chất, dạng bào chế và hỗ trợ dược phẩm.

Năm 2010, ấn bản thứ sáu của IP được xuất bản. 

Ấn bản thứ 6 của Dược điển Ấn Độ 2010 được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC), Ghaziabad. 

Ấn bản này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 9 năm 2010. • Dược điển Ấn Độ 2010 được trình bày thành ba tập. 

Tập I bao gồm các Thông báo, Lời nói đầu, Cấu trúc của IPC, Lời cảm ơn, Lời giới thiệu và các Chương chung. 

Tập II bao gồm Thông báo chung, Chuyên khảo chung về dạng bào chế và Chuyên khảo về dược chất, dạng bào chế và hỗ trợ dược phẩm (A đến M). 

Tập III gồm các chuyên khảo về dược chất, dạng bào chế và chất hỗ trợ dược phẩm (N đến Z). 

Chuyên khảo về Vắc-xin và Huyết thanh miễn dịch dùng cho người, Thảo dược và các sản phẩm thảo dược, Máu và các sản phẩm liên quan đến máu, Sản phẩm công nghệ sinh học và Sản phẩm thú y. 

Số lượng chuyên khảo về Tá dược, Thuốc chống ung thư, Dược liệu và thuốc kháng vi-rút đã được tăng lên trong ấn bản này. 

Một chương về NMR và một chương về ô nhiễm vi sinh vật cũng được cập nhật.

Năm 2014, ấn bản thứ bảy của Dược điển Ấn Độ được xuất bản. 

Ấn bản thứ bảy của Dược điển Ấn Độ (IP 2014) được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) thay mặt HM88.COM là cổng game cá cược trực tuyến uy tín tại Châu Á Ấn Độ, Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k và Phúc lợi Gia đình bởi Ghulam Nabi Azad.

Dược điển Ấn Độ 2014 được trình bày thành bốn tập. 

Phạm vi của Dược điển đã được mở rộng để bao gồm các loại thuốc và công thức chống ung thư, thuốc kháng vi-rút bổ sung, các sản phẩm công nghệ sinh học, các loại thảo mộc và sản phẩm thảo dược bản địa cũng như vắc-xin thú y. 

IP 2014 bao gồm 2550 chuyên khảo về thuốc, trong đó có 577 chuyên khảo mới về API, tá dược, dạng bào chế và sản phẩm thảo dược,…

Tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (IP) 2022 mới nhất

Đọc online và tải miễn phí Dược Điển Ấn Độ mới nhất - Indian Pharmacopoeia 2022
Đọc online và tải miễn phí Dược Điển Ấn Độ mới nhất – Indian Pharmacopoeia 2022

Dược điển Ấn Độ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/12/2022 bao gồm:

  • 3 sản phẩm điều trị có nguồn gốc từ công nghệ sinh học mới.
  • 2 thảo dược và sản phẩm từ thảo dược.
  • 2 sản phẩm liên quan đến máu.
  • 33 dạng bào chế.
  • 4 vắc xin và huyết thanh miễn dịch.
  • 12 chương mới.
Các hóa chất đã được thêm vào Dược Điển Ấn Độ 2022 2-deoxy-D-glucose, gói 2-deoxy-D-glucose, amifostine, amifostine để tiêm, viên Amlodipin và Valsartan, apremilast, viên nén apremilast, tiêm aprotinin, thuốc nhỏ mắt Azithromycin, bosutinib, viên nén bosutinib, brivaracetam, viên brivaracetam, Ceftriaxone và Sulbactam để tiêm, viên nén desogestrel, Desogestrel và ethinyl estradiol, dextran 1, dextran 40, dextran 70, dextropropoxyphene hydrochloride và Viên nén Paracetamol, Diclofenac Kali, Viên nén Diclofenac Kali, Epalrestat, Viên nén Epalrestat, Estradiol Hemihydrate, Ethyl Acetate, Ethynodiol Diacetate, Viên nén Ethynodiol Diacetate và Ethinyl estradioL, viên nén giải phóng kéo dài Fexofenadine hydrochloride và pseudoephedrine, viên nén glipizide và metformin.
Hóa chất được tích hợp vào Dược Điển Ấn Độ 2022 Itraconazole, lenvatinib mesylate, viên nang lenvatinib, viên nén Mesna, oxetacaine, Polymyxin B sulphate, polymyxin b để tiêm, viên nang kháng dạ dày prasugrel và Aspirin, viên nén Repaglinide và voglibose, viên nang Ribavirin, xi-rô Risperidone, Rocuronium bromide, tiêm rocuronium, glycolat tinh bột natri (loại B), sofosbuvir, Sofosbuvir và viên nén daclatasvir, viên sofosbuvir, quả cầu đường, tofacitinib citrate, viên nén tofacitinib, trazodone hydrochloride, viên nén trazodone, viên nén teneligliptin và Metformin hydrochloride giải phóng kéo dài, viên nén triamterene và Hydrochlorothiazide, valacyclovir hydrochloride, viên valacyclovir, Valganciclovir hydrochloride, viên valganciclovir, viên nén Vildagliptin và metformin, Zanamivir.
Các vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo mới được bổ sung vào Dược Điển Ấn Độ Viên nang vitamin tan trong dầu, vitamin tan trong dầu, viên nén vitamin tan trong dầu, viên nang vitamin tan trong nước, viên nén vitamin tan trong nước, axit alpha lipoic, Biotin, Canxi citrate malate, Crom picolinate, đồng gluconate, axit glutamic, Inositol, Lutein, Lysine hydrochloride, phenylalanine, selenomethionine, axit selenous, threonine, tryptophan, valine, Kẽm citrate.

Một số sửa đổi của Dược điển Ấn Độ 2022

Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) đã hoàn tất các sửa đổi và sửa đổi cần thiết đối với một số chuyên khảo trong Dược điển Ấn Độ 2022, dựa trên đề xuất từ ​​các bên liên quan khác nhau.

Các sửa đổi được đề xuất, được trích dẫn bởi các chuyên gia khác nhau, đã được thông báo tới tổng cục kiểm soát ma túy của Ấn Độ (DCGI), các văn phòng khu vực CDSCO, tất cả các cơ quan kiểm soát ma túy cấp bang, các phòng thí nghiệm ma túy và các bên liên quan khác như IDMA, OPPI, BDMA, FOPE, FSSAI và các cơ quan nhỏ hơn. -quy mô hiệp hội ngành công nghiệp, nguồn tin cho biết.

Các bản sửa đổi được đưa vào Dược điển Ấn Độ 2022 được phát hành vào ngày 1 tháng 7 năm 2022 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2022.

Bản sửa đổi đã được đưa vào một số chuyên khảo của Dược điển Ấn Độ dựa trên thông tin đầu vào khoa học của các bên liên quan mà Dược điển Ấn Độ nhận được. Theo đó, danh sách sửa đổi đầu tiên cho ấn bản thứ chín của Dược điển Ấn Độ đã được ban hành vào ngày 28 tháng 11 với những sửa đổi như vậy và danh sách này sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2022. Các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến dược phẩm cần phải tuân thủ Dược điển Ấn Độ 2022 nhằm cải thiện sức khỏe của người dân thông thường. Tiến sĩ Rajeev Singh Raghuvanshi, thư ký kiêm giám đốc khoa học của Ủy ban Dược điển Ấn Độ cho biết trong nước bằng cách đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả của thuốc.

Danh sách này bao gồm các sửa đổi về nhận dạng, giải thể, giải pháp tham khảo của một số chuyên khảo viz. axit axetic băng, amiloride và hydrochlorothiazide, aminophylline, aminophylline tiêm, viên apremilast, azelastine hydrochloride, kẽm bacitracin, bisoprolol fumarate, carbomers, viên clemastine, codeine phosphate, natri croscarmellose, clindamycin palmitate hydrochloride, cyclobenzaprine hydrochloride, natri docusate, eberconazole nitrat, clotrimazole kem, viên nén finasteride, histamine phosphate, imatinib mesylate, itraconazole, viên nang lenvatinib, Lenvatinib mesylate, viên levamisole, levetiracetam, viên levocetirizine, lindane, viên mefloquine, viên perphenazine, thuốc nhỏ mắt phenylephrine, viên nitrofurantoin, piperazine phosphate, truyền paracetamol, propylparaben, parafin mềm màu trắng, quinapril hydrochloride, thuốc tiêm rabeprazole, viên nang tacrolimus, racecadotril, triamcinolone, thuốc mỡ axit salicylic, bạc sulfadiazine, sitagliptin phosphate, sofosbuvir, than hoạt tính, axit folic và methylcobalamin.

Ngoài ra, danh sách sửa đổi còn bao gồm những thay đổi trong chuyên khảo về máu và các sản phẩm liên quan đến máu, viz. huyết thanh chống nhóm máu A, huyết thanh globulin chống người, phần chống bệnh máu khó đông ở người khô, bộ keo dán fibrin, yếu tố đông máu VIII (rDNA), globulin miễn dịch bình thường của người để sử dụng qua đường tĩnh mạch.

Ngoài ra, danh sách này còn bao gồm phần sửa đổi các chuyên khảo về các sản phẩm điều trị có nguồn gốc từ công nghệ sinh học, ví dụ, dung dịch đậm đặc erythropoietin, insulin aspart, thuốc tiêm insulin glargine cũng như các chuyên khảo về các sản phẩm thú y—thuốc tiêm buserelin, thuốc tiêm canxi borogluconate, hỗn dịch tiêm isoflupredone acetate, nandrolone laurate, black quarter. vắc xin.

Dược điển Ấn Độ 2022 đã được các bên liên quan đón nhận nồng nhiệt. Những nỗ lực đặc biệt cũng đã được thực hiện để hạn chế việc vi phạm bản quyền tài liệu này.

Ấn bản thứ chín của dược điển có nhiều tính năng mới độc đáo và được chuẩn bị ở dạng thân thiện với người dùng. Được xuất bản thành bốn tập, nó có hơn 3152 chuyên khảo.

Tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2022 Volume 1 tại đây.

Tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2022 Volume 2 tại đây.

Tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2022 Volume 3 tại đây.

Tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2022 Volume 4 tại đây.

Free Download PDF Dược điển Ấn Độ 2018 (Indian Pharmacopoeia)

Đọc online và tải miễn phí Dược Điển Ấn Độ mới nhất - Indian Pharmacopoeia 2018
Đọc online và tải miễn phí Dược Điển Ấn Độ mới nhất – Indian Pharmacopoeia 2018

Phiên bản thứ tám của Dược điển Ấn Độ (IP 2018) được xuất bản bởi Ủy ban Dược điển Ấn Độ (IPC) thay mặt cho Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k và Phúc lợi Gia đình Ấn Độ. Dược điển Ấn Độ (IP) được xuất bản phù hợp với các yêu cầu của Đạo luật Dược phẩm và Mỹ phẩm năm 1940 cũng như các quy định của nó. Nó quy định các tiêu chuẩn này cho các loại thuốc được Hm88i.com Sòng bài trực tuyến và/hoặc cung cấp ở Ấn Độ, từ đó giúp kiểm soát và đảm bảo chất lượng thuốc. Các tiêu chuẩn của dược điển này là hợp lệ và có hiệu lực Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ. Nó dự định hỗ trợ cấp phép Hm88i.com Sòng bài trực tuyến, thử nghiệm và phân phối thuốc. Sở hữu trí tuệ tiếp tục tìm kiếm sứ mệnh của IPC nhằm cải thiện sức khỏe con người, đảm bảo chất lượng, tính toàn vẹn và hiệu quả của thuốc. Ủy ban nhận được sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cơ quan công nghiệp và học thuật, phòng thí nghiệm quốc gia, cá nhân các nhà khoa học và những người khác. Thực hiện sở hữu trí tuệ trong thời gian ngắn và thường xuyên là một trong những nhiệm vụ chính của ủy ban.

Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2018 Volume 1 tại đây.

Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2018 Volume 2 tại đây.

Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Ấn Độ (Indian Pharmacopoeia) năm 2018 Volume 3 tại đây.

The post Đọc online và tải miễn phí PDF Dược Điển Ấn Độ mới nhất – Indian Pharmacopoeia appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-an-do-moi-nhat-indian-pharmacopoeia/feed/ 0
Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Trung Quốc mới nhất – Chinese Pharmacopoeia PDF https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-trung-quoc-moi-nhat-chinese-pharmacopoeia/ https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-trung-quoc-moi-nhat-chinese-pharmacopoeia/#respond Mon, 04 Dec 2023 10:49:50 +0000 https://hmm88i.com/?p=24689 Dược điển của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PPRC) hay còn được gọi là Dược điển Trung Quốc (ChP) là một bản tóm tắt do Ủy ban Dược điển của Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trực tiếp biên soạn. Trong bài viết này, Dược sĩ Lưu Lưu Văn Hoàng sẽ […]

The post Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Trung Quốc mới nhất – Chinese Pharmacopoeia PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Dược điển của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PPRC) hay còn được gọi là Dược điển Trung Quốc (ChP) là một bản tóm tắt do Ủy ban Dược điển của Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trực tiếp biên soạn. Trong bài viết này, Dược sĩ Lưu Lưu Văn Hoàng sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết và link tải miễn phí Dược điển Trung Quốc (ChP) English version

Giới thiệu

Dược điển của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PPRC) hay còn được gọi là Dược điển Trung Quốc (ChP) là một bản tóm tắt do Ủy ban Dược điển của Hm88 Chính Thức Đăng ký, Tải App tặng 88k Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trực tiếp biên soạn. Nội dung của cuốn Dược điển bao gồm:

  • Các thông tin về tiêu chuẩn của độ tinh khiết.
  • Mô tả các loại thuốc.
  • Kiểm tra.
  • Liều lượng thuốc..
  • Biện pháp phòng ngừa.
  • Bảo quản thuốc.
  • Nồng độ của từng loại thuốc.

Dược điển của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được công nhận là dược điển chính thức của Trung Quốc bởi Tổ chức Y tế Thế giới.

Kể từ năm 1985, Ủy ban Dược điển Trung Quốc đã xuất bản các phiên bản cập nhật của Dược điển 5 năm một lần. Tất cả các loại thuốc được bán trên thị trường Trung Quốc phải tuân thủ các tiêu chuẩn hiện hành có trong Dược điển Trung Quốc.

Nội dung của Dược điển Trung Quốc

Kể từ năm 2015, Dược điển Trung Quốc đã được xuất bản cả 4 tập, có cả tiếng Trung và tiếng Anh.

Y học cổ truyền Trung Quốc, ISBN 978-7-5067-7337-9.

Y học Hóa học, ISBN 978-7-5067-7343-0.

Chế phẩm sinh học, ISBN 978-7-5067-7336-2.

Quy tắc chung và ISBN 978-7-5067-7539-7.

Quy tắc sắp xếp:

  • Tiếng Trung: Sắp xếp theo thứ tự nét chữ trong tiếng Trung.
  • Tiếng Anh: Sắp theo theo thứ tự bảng chữ cái.

Lịch sử phát triển của Dược Điển Trung Quốc – Dược Điển Trung Quốc bản tiếng Anh

Phiên bản năm 1997 cả tiếng Trung và tiếng Anh đều bao gồm 2 tập, bao gồm:

  • Tập 1, thuốc từ dược liệu, 1997, ISBN 7-5025-2062-7.
  • Tập 2, Tây y, 1997, ISBN 7-5025-2063-5.

Cả 2 phiên bản này không phải là bản dịch trực tiếp của nhau mà được sắp xếp như theo phiên bản hiện tại.

Tập thứ 3 được thêm vào năm 2005, được mô tả là một bản tóm tắt hầu hết các thuốc truyền thống của Trung Quốc và các chế phẩm của phương Tây với 2691 chuyên khảo trong đó có 992 chuyên khảo cho các loại thuốc truyền thống của Trung Quốc và 1699 chuyên khảo còn lại cho các chế phẩm của phương Tây. Các thông tin bao gồm:

  • Tiêu chuẩn về độ tinh khiết.
  • Mô tả.
  • Thử nghiệm.
  • Liều lượng.
  • Phòng ngừa.
  • Bảo quản.

Tải miễn phí PDF Dược điển Trung Quốc năm 2020 bản tiếng Anh (Chinese Pharmacopoeia 2020)

Đọc online và tải miễn phí Dược điển Trung Quốc mới nhất – Chinese Pharmacopoeia 2022
Đọc online và tải miễn phí Dược điển Trung Quốc mới nhất – Chinese Pharmacopoeia 2022

Nội dung

Vào ngày 2 tháng 7 năm 2020, Cơ quan Quản lý Sản phẩm Y tế Quốc gia (NMPA) và Ủy ban Y tế Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (NHC) đã công bố Phiên bản Dược điển Trung Quốc 2020.

Đây là Dược điển Trung Quốc ấn bản thứ 11 và sẽ được triển khai chính thức từ ngày 30/12/2020.

Dược điển Trung Quốc được xuất bản thành 4 tập:

  • Tập I: Các loại thuốc truyền thống của Trung Quốc bao gồm dược liệu, thuốc thô cắt nhỏ, dầu Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live và chiết xuất Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live.
  • Tập II: Thuốc hóa học, thuốc kháng sinh, thuốc sinh hóa, thuốc phóng xạ;
  • Tập III: Chế phẩm sinh học;
  • Tập IV: Các chương chung về dạng bào chế thành phẩm, phương pháp thử, hướng dẫn, chất đối chiếu, thuốc thử, dung dịch thử và tá dược dược phẩm.

Điểm nổi bật của Dược điển Trung Quốc 2020

Phiên bản Dược điển Trung Quốc 2020 được biên soạn theo khuôn khổ cố định. Tất cả các mục tiêu trong khuôn khổ đã đạt được.

Một lượng dược phẩm thành phẩm thích hợp đã được liệt kê mới trong ấn bản năm 2020. Điều này mang lại tổng số 5.911 dược phẩm thành phẩm được liệt kê trong Dược điển Trung Quốc.

Phiên bản 2020 đã xóa bỏ một số tiêu chuẩn đối với dược phẩm thành phẩm của Trung Quốc để đáp ứng yêu cầu mới.

Phiên bản 2020 tối ưu hóa toàn diện các tiêu chuẩn của thành phẩm dược phẩm.

Yêu cầu kỹ thuật về kiểm soát chất lượng đã được cải thiện đối với: thuốc cổ truyền Trung Quốc, thuốc hóa học, sản phẩm sinh học, API, tá dược dược phẩm, vật liệu đóng gói, các chất khác. Các thông báo chung, chương chung về dạng bào chế thành phẩm, phương pháp thử nghiệm và hướng dẫn đã được sửa đổi.

Phiên bản Dược điển Trung Quốc 2020 đã thiết lập và tối ưu hóa quy ước đặt tên chung cho thuốc tiêu chuẩn, tá dược và vật liệu đóng gói.

Phiên bản Dược điển Trung Quốc 2020 đã cải thiện các yêu cầu kỹ thuật chung cho thành phẩm dược phẩm.

Chẳng hạn, tiêu chuẩn của thuốc cổ truyền Trung Quốc được duy trì theo tiêu chuẩn quốc tế, trong khi tiêu chuẩn của thuốc hóa học và tá dược dược phẩm đã gần tiệm cận trình độ quốc tế.

Trong khi đó, tiêu chuẩn của các sản phẩm sinh học đã đạt đến trình độ quốc tế và gắn liền với sự phát triển khoa học mới.

Sự liên lạc và hợp tác quốc tế giữa các cơ quan dược điển đã được tăng cường hơn nữa.

Một loạt dược điển quốc gia đã được hài hòa hơn nữa với nhau và tác động quốc tế của Dược điển Trung Quốc đã được khuếch đại.

Đặc điểm chính của Dược điển Trung Quốc phiên bản 2020

Dược điển Trung Quốc chủ yếu bao gồm các thông báo chung, chuyên khảo và yêu cầu kỹ thuật chung.

Tất cả các sản phẩm dược phẩm thành phẩm được cấp phép lưu hành tại Trung Quốc đều phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong Dược điển Trung Quốc kể từ ngày thực hiện.

Cải thiện hơn nữa các tiêu chuẩn trong Dược điển Trung Quốc.

Ứng dụng sâu hơn của công nghệ tiên tiến trong phân tích và thử nghiệm sản phẩm.

Cải thiện nhất quán các yêu cầu kiểm soát an toàn đối với dược phẩm thành phẩm.

Cải thiện nhất quán việc kiểm soát hiệu quả của thuốc.

Từng bước thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng toàn bộ quá trình Hm88i.com Sòng bài trực tuyến dược phẩm.

Tiếp tục cải tiến các tiêu chuẩn tá dược dược phẩm.

Hài hòa hơn nữa các tiêu chuẩn quốc tế.

Đẩy mạnh hơn nữa Dược điển Trung Quốc như một hướng dẫn cho ngành dược phẩm.

Điểm mới của phiên bản Dược điển Trung Quốc 2020.

Dược điển Trung Quốc chủ yếu bao gồm các thông báo chung, chuyên khảo và yêu cầu kỹ thuật chung. Tất cả các sản phẩm dược phẩm thành phẩm có Người giữ Giấy phép Tiếp thị tại Trung Quốc (MAH) phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật trong Dược điển Trung Quốc kể từ ngày triển khai.

Trong tiêu chuẩn đăng ký thuốc, những hạng mục kiểm nghiệm không có hoặc không phù hợp với tiêu chuẩn trong Dược điển Trung Quốc hoặc các thông số chất lượng có tiêu chí cao hơn trong Dược điển Trung Quốc sẽ được tiến hành hoặc sử dụng không chỉ theo quy định về đăng ký thuốc. mà còn cả các tiêu chuẩn Dược điển Trung Quốc. Trong trường hợp ngược lại, các tiêu chuẩn đăng ký thuốc bao gồm ít hạng mục thử nghiệm hơn tiêu chuẩn Dược điển hoặc tiêu chí thông số chất lượng thấp hơn tiêu chuẩn trong Tiêu chuẩn Dược điển, nên được thực hiện theo Dược điển Trung Quốc.

Do đặc thù về độ hòa tan, tốc độ phóng thích trong kiểm tra chất lượng thuốc, đối với những thuốc generic có tiêu chí khác với tiêu chí dược điển nhưng đã được phê duyệt để đánh giá thống nhất về chất lượng và hiệu quả, cơ quan quản lý, giám sát quốc gia phải làm rõ trong kết quả. đánh giá kỹ thuật. Người nộp đơn có thể gửi đề xuất về cách sửa đổi các tiêu chuẩn dược điển cho cơ quan dược điển Trung Quốc trong vòng ba tháng sau khi đơn đăng ký được phê duyệt.

Để đáp ứng các yêu cầu của Dược điển Trung Quốc, đối với việc thay đổi công thức, quy trình Hm88i.com Sòng bài trực tuyến và nhà cung cấp API và tá dược, MAH và nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến phải tiến hành nghiên cứu và xác nhận toàn diện theo Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live của Cục Quản lý Dược, hướng dẫn kỹ thuật cho các nghiên cứu liên quan đến thay đổi và Yêu cầu của GMP. Họ sẽ thực hiện hoặc báo cáo sau khi đơn đăng ký thay đổi được phê duyệt hoặc nộp.

Dược phẩm thành phẩm đã được sửa đổi tên theo quy ước đặt tên chung có thể giữ nguyên tên gốc như tên cũ cho giai đoạn chuyển tiếp.

Kể từ ngày triển khai Dược điển Trung Quốc 2020, hồ sơ đăng ký thuốc thành phẩm phải đáp ứng các yêu cầu liên quan trong Dược điển Trung Quốc.

Đối với các đơn đăng ký đã được chấp nhận và chưa được xem xét để phê duyệt, cơ quan quản lý và giám sát quốc gia phải tiến hành đánh giá kỹ thuật theo các yêu cầu liên quan của ấn bản Dược điển Trung Quốc 2020. Người nộp đơn phải bổ sung các tài liệu kỹ thuật liên quan trong một lần nộp.

Dược phẩm thành phẩm đã được cấp phép lưu hành theo yêu cầu liên quan của Dược điển Trung Quốc trước đây trong giai đoạn chuyển tiếp ban hành và triển khai phiên bản 2020 phải đáp ứng các yêu cầu của phiên bản 2020 trong vòng 6 tháng kể từ khi được phê duyệt.

Hướng dẫn

Chương Hướng dẫn
9001 Hướng dẫn kiểm tra độ ổn định của dược chất và chế phẩm
9011 Hướng dẫn nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học trong chế phẩm thuốc
9011 Hướng dẫn Xác nhận Phương pháp Phân tích Định lượng cho Mẫu Sinh học
9012 Hướng dẫn chuẩn bị phát hành liên tục, có kiểm soát và trì hoãn
9013 Hướng dẫn chuẩn bị vi hạt
9014 Hướng dẫn nghiên cứu và kiểm soát chất lượng đa hình thuốc
9015 Hướng dẫn xác minh phương pháp phân tích
9099 Hướng dẫn chuyển giao phương pháp phân tích
9100 Hướng dẫn xác nhận phương pháp phân tích
9101 Hướng dẫn phân tích tạp chất trong thuốc
9102 Hướng dẫn thử nghiệm khả năng hút ẩm cho dược phẩm
9103 Hướng dẫn đo quang phổ cận hồng ngoại (NIR)
9104 Hướng dẫn xét nghiệm hoạt tính sinh học của thuốc cổ truyền Trung Quốc
9105 Hướng dẫn đánh giá dược phẩm dựa trên microarrays
9106 Hướng dẫn về mã vạch DNA để nhận dạng phân tử các thành phần y học cổ truyền Trung Quốc
9107 Hướng dẫn kỹ thuật về giải trình tự DNA
9108 Hướng dẫn thiết lập trình tự axit nucleic chuẩn
9109 Hướng dẫn xác nhận các phương pháp phát hiện vi khuẩn thay thế cho dược phẩm
9201 Hướng dẫn kiểm tra giới hạn vi khuẩn cho các sản phẩm không vô trùng
9202 Hướng dẫn quản lý chất lượng phòng thử nghiệm vi sinh dược phẩm
9203 Hướng dẫn nhận dạng vi sinh vật
9204 Hướng dẫn giám sát và kiểm soát vi sinh trong phòng thí nghiệm sạch đối với sản phẩm dược phẩm
9205 Hướng dẫn Xác nhận Hệ thống Cách ly để Sử dụng và Ứng dụng trong Kiểm tra Độ vô trùng
9206 Hướng dẫn về chất chỉ thị sinh học để khử trùng
9207 Hướng dẫn kiểm tra hiệu suất kháng thuốc chỉ thị sinh học
9208 Hướng dẫn áp dụng xét nghiệm nội độc tố vi khuẩn
9251 Hướng dẫn áp dụng các thử nghiệm an toàn khi tiêm
9301 Hướng dẫn thiết lập giới hạn dư lượng có hại của thuốc cổ truyền Trung Quốc
9302 Hướng dẫn xác định chất màu
9303 Hướng dẫn xác định nhôm (Al), crom (Cr), sắt (Fe) và Bari (Ba) trong y học cổ truyền Trung Quốc
9034 Hướng dẫn xác định độc tố nấm mốc trong y học cổ truyền Trung Quốc
9305 Hướng dẫn kiểm soát tạp chất gây độc gen
9306 Hướng dẫn xác nhận các phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học/hiệu lực cho các sản phẩm sinh học
9401 Hướng dẫn kiểm tra độ ổn định của sản phẩm sinh học
9402 Hướng dẫn kiểm soát chất lượng các chế phẩm dược phẩm phóng xạ chụp cắt lớp phát xạ Positron
9501 Hướng dẫn kiểm soát chất lượng dược phẩm phóng xạ Technetium [99mTc]
9502 Hướng dẫn nghiên cứu, đánh giá các đặc tính liên quan đến chức năng của tá dược dược phẩm
9602 Hướng dẫn về tá dược dược phẩm có nguồn gốc động vật
9603 Hướng dẫn kiểm soát chất lượng tá dược dược phẩm trộn sẵn và đồng chế biến
9621 Hướng dẫn về các yêu cầu chung đối với vật liệu và hộp đựng bao bì thuốc
9622 Hướng dẫn về Vật liệu và Hộp đựng Dược phẩm Thủy tinh
9901 Hướng dẫn quốc gia về bào chế dược chất tiêu chuẩn

Tải miễn phí trọn bộ PDF Dược điển Trung Quốc – Chinese Pharmacopoeia 2020 English version tập 1 tại đây.

Tải miễn phí trọn bộ PDF Dược điển Trung Quốc – Chinese Pharmacopoeia 2020 English version tập 2 tại đây.

Đọc online và tải miễn phí PDF Chinese Pharmacopoeia 2015 bản tiếng Anh

Dược điển Trung Quốc Phiên bản 2015 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (sau đó gọi là ‘Dược điển Trung Quốc’) là ấn bản thứ 10 của Dược điển Trung Quốc. Tất cả các thành viên của Ủy ban Dược điển Trung Quốc (ChPC) và các nhân viên của tổ chức thường trực của Ủy ban này đã làm việc chăm chỉ để hoàn thành việc biên soạn Dược điển Trung Quốc ấn bản 2015 theo các khái niệm hướng dẫn, nguyên tắc cơ bản, mục tiêu và yêu cầu do Đề cương biên soạn Dược điển Trung Quốc được thông qua tại Lễ thành lập và Phiên họp toàn thể của Ủy ban Dược điển Trung Quốc lần thứ 10 dưới sự lãnh đạo của Cơ quan Thực phẩm và Thực phẩm Trung Quốc. Cục Quản lý Dược (CFDA), sự ủng hộ, giúp đỡ tích cực của các cơ quan kiểm soát ma túy, cơ quan nghiên cứu và trường đại học ở các cấp cũng như sự tham gia, phối hợp tích cực của các nhà Hm88i.com Sòng bài trực tuyến thuốc. Ủy ban của Ủy ban Dược điển Trung Quốc lần thứ 10 đã thông qua ấn bản dược điển này, được CFDA phê duyệt vào ngày 5 tháng 6 năm 2015 và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2015.

Phiên bản Dược điển Trung Quốc  (ChP) 2015 bao gồm các tập I, IT, Ill và N và có tổng cộng 5.608 chuyên khảo. trong đó có 1.082 chuyên khảo mới. Tập I chứa tổng cộng 2.598 chuyên khảo về dược liệu và các lát thuốc thô Trung Quốc Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live, mỡ dầu và chiết xuất, các chế phẩm đơn,…, bao gồm 440 chuyên khảo mới, 517 bản sửa đổi và 7 bản bị từ chối. Tập IT có tổng cộng 2.603 chuyên khảo về thuốc hóa học, kháng sinh, thuốc sinh hóa và thuốc phóng xạ, trong đó có 492 chuyên khảo mới, 415 sửa đổi và 28 bài bác bỏ. Tập sách chứa tổng cộng có 137 tác phẩm sinh học, bao gồm 1:3 chuyên khảo mới, 105 bản sửa đổi và sáu bản bị từ chối. Để giải quyết các vấn đề như lặp đi lặp lại các phương pháp thử nghiệm và thiếu sự phối hợp, nhất quán và tiêu chuẩn hóa giữa các phương pháp khác nhau, ấn bản dược điển này đã tích hợp các phụ lục chung của nhiều tập dược điển khác nhau và đổi tên các phụ lục ban đầu thành các Chương chung, bao gồm cả các chi. Yêu cầu về chế phẩm, phương pháp ủ, chất chuẩn, thuốc thử và hướng dẫn. Hệ thống mã hóa chuẩn đã được thiết lập, các chương chung và tá dược được đưa riêng vào tập N của Dược điển Trung Quốc. Tập N có tổng cộng 317 chương chung, trong đó có 38 yêu cầu chung đối với chế phẩm, 240 phương pháp thử nghiệm, 30 hướng dẫn và 9 chất chuẩn, dung dịch thử nghiệm và thuốc thử; 270 chuyên khảo về tá dược, trong đó có 137 chuyên khảo mới, 97 chuyên khảo sửa đổi và 2 chuyên khảo bác bỏ.

The post Đọc online và tải miễn phí PDF Dược điển Trung Quốc mới nhất – Chinese Pharmacopoeia PDF appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/doc-online-va-tai-mien-phi-duoc-dien-trung-quoc-moi-nhat-chinese-pharmacopoeia/feed/ 0