GS.TS Đỗ Tất Lợi - người bắc cầu y học cổ truyền và y học hiện đại https://hmm88i.com/author/dotatloi/ Hm88 com vn tỷ lệ kèo World Cup 2026 Wed, 22 Nov 2023 03:33:22 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9 https://hmm88i.com/hm88-32.png GS.TS Đỗ Tất Lợi - người bắc cầu y học cổ truyền và y học hiện đại https://hmm88i.com/author/dotatloi/ 32 32 Cây Hoàng Kỳ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-hoang-ky-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-hoang-ky-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:34:03 +0000 https://hmm88i.com/?p=24510 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Hoàng Kỳ trang 904-906 tải bản PDF tại đây. Hoàng kỳ (Radix Astragali) là rễ phơi hay sấy khô của cây hoàng kỳ-(Astragalus  menbranaceus (Fisch) Bungel-hay cây hoàng kỳ Mông Cổ (Astragalus mongholicus Bunge) hoặc của những cây cùng chỉ đều thuộc họ […]

The post Cây Hoàng Kỳ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Hoàng Kỳ trang 904-906 tải bản PDF tại đây.

Hoàng kỳ (Radix Astragali) là rễ phơi hay sấy khô của cây hoàng kỳ-(Astragalus  menbranaceus (Fisch) Bungel-hay cây hoàng kỳ Mông Cổ (Astragalus mongholicus Bunge) hoặc của những cây cùng chỉ đều thuộc họ Đậu Fabaceae.

Vị thuốc màu vàng, sở trường về bổ cho tới có tên gọi như vậy: hoàng là vàng, kỹ là nhóm (sở trường).

Mô tả cây

Hai cây hoàng kỳ hay cho vị thuốc thường tiêu thụ trên thị trường là

  1. Hoàng kỳ (Astragalus membranaceus (Fish) Bunge) là một cây sống lâu năm, cao 50-80cm, rễ cái dài và mọc sâu, rất khó bỏ, đường kính 1- 3cm, vỏ ngoài màu vàng đỏ hay nâu. Thân mọc thẳng đứng, trên có phân nhiều cành. Lá mọc so le, kép, đìa lẻ, có lá kèm hình 3 cạnh, 6-13 đổi lá chét hình trứng dài 5-23mm, mặt dưới có nhiều lông trắng mịn. Cụm hoa mọc thành chùm ở kẽ lá, dài hơn lá, gồm 5-22 hoa, màu vàng tươi. Quả giáp mỏng, dẹt, dài 2-2,5cm, đường kính 0,9-1,2cm đầu dài ra thành hình gai nhọn, trên quả có lông ngắn, 5-6 hạt màu đen hình thận. Mùa hoa tại Trung Quốc vào các tháng 6-7, mùa quả vào các tháng 8-9 (Hà Bắc, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh).
  2. Hoàng kỳ Mông Cổ (Astragalus mongholicus Bunge) rất giống loại trên, nhưng khác bởi lá chét nhỏ hơn, 12-18 đôi lá chét, tràng hoa dài hơn, quả rộng hơn 1,1-1,5cm, không có lông. Mùa hoa vào các tháng 6-7, mùa quả vào các tháng 7-9, cũng hay gặp ở những nơi có hoàng kỳ.

    Hoàng Kỳ
    Hoàng Kỳ

Phân bố và chế biến

Cho đến nay ta vẫn phải nhập hoàng kỳ của Trung Quốc. Ta đã thí nghiệm trồng thử ở nước ta, mọc được, nhưng chưa đưa vào trồng nhiều. Cây hoàng kỳ mọc hoang tại Trung Quốc, ưa những nơi đất cát, thoát nước tốt. Thường trồng sau 3 năm mới thu hoạch, sau 6-7 năm thì tốt hơn. Đào rễ vào mùa thu, rửa sạch đất cát, cắt bỏ đầu rễ và rễ con, phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học

Theo sự nghiên cứu của Sở được thuộc Viện nghiên cứu y học Bắc Kinh, trong hoàng kỳ có cholin betain, nhiều loại axit amin và sacaroza.

Những tài liệu trước cũng cho biết hoạt chất của hoàng kỳ chưa rõ, chỉ mới biết có chất nhầy, chất đường.

Theo lý Thừa Có (Sinh được học, 1952) trong hoàng kỳ có sacaroza, glucoza, tinh bột, chất nhây, gôm, hơi có phản ứng ancaloit. Mới đây người ta phát hiện trong hoàng kỳ có chất selenium.

Tác dụng dược lý

Hoàng kỳ có một số tác dụng chủ yếu sau day:

  1. Theo báo cáo của Trưởng Trạch và Cao Kiểu (1940) hoàng kỳ có tác dụng làm cho kỳ động tình của chuột bạch thông thường là 1 ngày kéo dài thành 10 ngày.
  2. Trên hệ thống tuần hoàn. Theo Tự Điển và Cao Kiểu (Nhật Bản y học kiện khang bảo hiểm, 1941) hoàng kỳ có tác dụng tăng sự có bóp của tim bình thường. Đối với tim bị trúng độc hay do mệt mỏi mà suy kiệt thì tác dụng lại càng rõ rệt. Hoàng kỳ còn có tác dụng làm giãn mạch, kết quả của sự giãn mạch ngoại vi dẫn đến việc làm cho máu tới nhiều hơn, sự dinh dưỡng tốt hơn, cũng do giãn mạch ngoại vi, huyết áp hạ thấp, do mạch tim và mạch thận giãn nở nên cũng ảnh hưởng làm thông tiểu tiện.

Thí nghiệm trên chuột bạch và chuột lang còn chứng minh rằng hoàng kỳ có tác dụng tăng sức để kháng của mao mạch, đo đó có thể để phòng hiện tượng thẩm thấu của mao mạch tăng mạnh cho clorofoc, histamin tạo nên. Hoàng kỳ còn dùng Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ mao mạch dễ bị vỡ (dòn) do bị chiếu quang tuyến X quá độ.

Năm 1936 Kinh Lợi Bản và Lý Đăng Bảng thuộc Viện nghiên cứu y học Bắc Kinh (Sở nghiên cứu sinh lý) đã báo cáo rằng con hoàng kỳ (rượu 70″) chế thuốc và tiêm vào tĩnh mạch chó đã gây mê thì thấy huyết áp hạ thấp lâu dài.

  1. Tác dụng lợi tiểu:

Uống thuốc hoàng kỳ có tác dụng lợi tiểu: Theo báo cáo của Phác Trụ Thừa và Y Bác An, cho 3 con chó uống 0,5-4g hoàng kỳ, sau 4 giờ và 24 giờ đo lượng nước tiểu bài tiết thì thấy hoàng kỳ có tác dụng lợi tiểu rõ rệt trong đó có một con chó so với con không uống thuốc thấy tiểu tiện tăng gấp 2 lần. Thí nghiệm trên 2 con thỏ, cũng thấy kết quả như vậy. Nhưng nếu cho uống lâu thì tác dụng lợi tiểu lại không rõ rệt. Nếu uống với liều cao, thì ngược lại ngày thứ nhất lượng nước tiểu giảm xuống, nhưng không đưa tới anbumin niệu hay đường niệu. Đối với chó bị viêm thận do nhiễm độc asen thì hoàng kỳ không có tác dụng lợi tiểu.

Năm 1936, Kinh Lợi Bân và Lý Đăng Bảng báo cáo đã dùng thuốc hoàng kỳ tiêm tĩnh mạch cho chó đã gây mê thì thấy tác dụng lợi tiểu rất rõ rệt, nhưng tiếc rằng các tác giả không nói rõ nồng độ và liều lượng dung địch đã tiêm, do đó Trương Xương Thiệu (Hiện đại đích trung được nghiên cứu, 97: 1954) mới phân tích và kết luận rằng nhận định đó còn phải thảo luận thêm.

  1. Ảnh hưởng trên đường huyết: Kinh Lợi Bân, Thạch Nguyễn Cao, Lý Đăng bảng (1936) đã báo cáo dùng thuốc hoàng kỳ tiêm dưới da cho nhỏ thì không thấy ảnh hưởng gì tới đường huyết.
  2. Tác dụng kháng sinh: Năm 1947, Từ Trọng Lỗ (Trung Hoa y học tạp chí, 33: 71-75) đã báo cáo hoàng kỳ có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng lỵ Shiga trong ống nghiệm.

Công dụng và liều dùng

Hoàng kỳ là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi đông y làm thuốc ích khí, tống sang độc, lợi tiểu, làm hết đau, hút mủ, là thuốc quan trọng Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đậu không mọc được, chữa mọi bệnh của trẻ con, phụ nữ, có ác huyết không ra hết, đàn ông hư tổn.

Trên cơ sở nghiên cứu của tây y, người ta dùng hoàng kỳ để chữa những trường hợp lở loét mãn tính, suy nhược lâu ngày, huyết áp cao, mạch máu nhỏ dễ đứt vỡ, viêm thận mãn tính với anbumin niệu, cơ thể suy nhược hay ra nhiều mồ hôi.

Ngày dùng 3-9g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc cao.

Theo tài liệu cổ hoàng kỳ có vị ngọt, tính ôn, vào 2 kinh phế và tỳ. Có tác dụng bổ khí, lợi tiểu, thác sang. Dùng chữa biểu hư sinh ra mô hỏi trộm, tỳ hư sinh ỉa lỏng, dương hư huyết thoát, thủy thũng, huyết tý.

Đơn thuốc có hoàng kỳ

  1. Hoàng kỳ lục nhất thang (Đăng Ký HM88.COM +88k cổ điển trong đông y).

Dùng chữa toàn thân suy nhược, chân tay mỏi mệt rời rã, miệng khô, tim đập nhanh hồi hộp, mặt xanh vàng không muốn ăn uống, nhiều mồ hôi, sốt.

Hoàng kỳ sao mặt 6 phần, cam thảo 1 phần (một nửa dùng sống, một nửa sao). Tất cả tán nhỏ. Mỗi lần uống 4-8g bột này, vào sáng, trưa và chiều. Có thể sắc uống.

  1. Hoàng kỳ kiện trung thang:

Chữa cơ thể suy nhược, nhiều mồ hôi (ghi trong Kim qui phương).

Hoàng kỳ 6g, thược dược 5g, quế chi 2g, cam thảo 2g, sinh khương 4g, đại táo 6g, nước 600ml. sắc còn 200ml, trộn thêm một ít mạch nha cho ngọt chia 3 lần uống trong ngày.

Chú thích:

Ngoài hai cây hoàng kỳ nói trên, một số tài liệu trước xác định cây hoàng kỳ là Astragalus hoantchi. Nhưng theo sự điều tra mới dạy của các nhà Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live và dược liệu Trung Quốc thì không thấy cây này. Một số địa phương của Trung Quốc còn dùng nhiều cây khác làm hoàng kỳ nhu Astragalus tongolensis Ulbr., Melitotis, Heydysarum polybotrys Hand. -Mazz.v.v…

The post Cây Hoàng Kỳ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-hoang-ky-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Hạt Gấc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/hat-gac-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/hat-gac-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:29:54 +0000 https://hmm88i.com/?p=24506 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Hạt Gấc trang 902-904 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là mộc tất tử, thổ mộc miết, mộc biệt tử, mắc cao (Vientian), Mákhâu (Thái), Mắc khấu (Thổ). Tên khoa học Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng (Muricia cochichinensis Lour., Muricia mixta Roxb). Thuộc […]

The post Hạt Gấc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Hạt Gấc trang 902-904 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là mộc tất tử, thổ mộc miết, mộc biệt tử, mắc cao (Vientian), Mákhâu (Thái), Mắc khấu (Thổ).

Tên khoa học Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng (Muricia cochichinensis Lour., Muricia mixta Roxb).

Thuộc họ Bí Cucurbitaceae.

Cây gấc cho ta những vị thuốc sau đây:

  1. Hạt gấc: Mộc miết tử (Semen Momordicae) là hạt lấy ở quả gấc chín và phơi hay sấy khô.
  2. Dầu gấc (Oleum Momordicae) là dầu ép tự màng đỏ bọc xung quanh hạt gấc.
  3. Rễ gấc (Radix Momordicae) là rễ cây gấc phơi hay sấy khô.

Mô tả cây

Gác là một loại dây leo, mỗi năm khô héo một lần nhưng năm sau vào mùa xuân, từ gốc lại mọc ra nhiều thân mới. Mỗi gốc có nhiều dây, mỗi dây có nhiều đốt, mỗi đốt có lá. Lá mọc so le, chia thùy khía sâu tới 1/3 hay 1/2 phiền. Đường kính phiến lá 12-20cm, phía đây lá hình tim, mặt trên lá màu xanh lục xám, sờ ram ráp. Hoa nở vào các tháng 4-5, đực cái riêng biệt. Cánh hoa màu vàng nhạt. Tháng 6 có quả non, hình bầu dục dài 15-20cm, đít nhọn, ngoài có nhiều gai mềm đỏ đẹp. Trong quả có nhiều hạt xếp thành hàng dọc, quanh hạt có màng màu đỏ máu; khi bóc màng đỏ thấy có một lớp vỏ cứng đen, quanh mép có răng cưa tù và rộng hạt dài chừng 25-35cm, rộng 19-31mm, dày 5- 10mm, trong gần giống con ba ba nhỏ bằng gỗ, do đó có tên mộc miết tử (mộc là gỗ, miết là con ba ba). Trong hạt có nhân, chứa nhiều dầu.

Cây Gấc
Cây Gấc

Phân bố, thu hái và chế biến

Gấc mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất ở miền Bắc. Còn thấy mọc ở Philipin, miền nam Trung quốc, Lào, Cămpuchia. Trồng bằng hạt hay dâm cành vào các tháng 2-3, trồng một năm thu hoạch nhiều năm, mùa thu hoạch quả từ các tháng 8-9 đến hết tháng 1-2 năm sau. Sau đó cây lại đi, sang xuân lại nảy chồi, mọc cây mới.

Người ta thường nói hạt gấc phải đó chín thì cây gấc mới có quả. Sự thực dù trồng bằng hạt đã đồ chín hay chưa đó chín vẫn cho quả. Ngay năm đầu đã có quả, nhưng còn ít, càng những năm sau càng nhiều quả.

Quả hái về, mổ lấy hạt với cả màng màu đỏ, nếu để nấu xôi thì dùng tươi sát với gạo. Nếu để chế thuốc thì cần phải sấy hay phơi khô cả hạt và màng cho đến khi cầm hạt không thấy dính tay nữa thì dùng dao nhọn bóc lấy màng đỏ, phơi hay sấy khô ở nhiệt độ thấp (60-70). Với màng này người ta dùng chế dầu gấc. Còn lại hạt với lớp vỏ đen cứng đem phơi khô để dành dùng làm thuốc hay ép đầu.

Muốn chế dầu gấc, trước hết cần sấy khổ màng hạt gấc, sau đó tán nhỏ rồi áp dụng một trong mấy phương pháp sau đây:

  1. Chiết bằng dung môi (dùng ête dầu hỏa). Lấy kiệt bằng ête dầu hỏa. Sau đó thu hồi ête bằng cách đun cách thủy trong không khí trơ (khí cacbonic hay nitơ). Cặn còn lại là dầu gấc. Để lâu dầu gấc này sẽ để lăng một lớp tinh thể caroten. Tỷ lệ dấu trong màng đỏ là 8%, 100kg quả gấc cho chừng 19 lít dầu gấc.
  2. Ép như ép dầu lạc. Màng đỏ đã sấy khô tán nhỏ, đem đổ lên rồi ép. Dầu ép được để lâu hay để vào tủ lạnh cũng phân thành 2 lớp như dầu chiết bằng ête. Dầu chế bằng hai phương pháp trên, muốn đem trung tính cần áp dụng phương pháp loại axit tự do bằng còn 95%.
  3. Phương pháp thủ công nghiệp. Khi ta có một số ít gấc muốn chế dầu gấc để dùng trong gia đình hay dùng trong một thời gian ngắn, ta có thể cho màng hạt gấc đã sấy khô tán nhỏ vào dầu lạc hay mỡ lợn đã đun nóng ở nhiệt độ 60- 70. Dầu lạc hay mỡ lợn sẽ hòa tan chất dầu chứa trong màng gấc. Đựng trong chai nhỏ, đổ đầy để tránh hiện tượng ôxy hóa.

Dầu gấc nguyên chất (loại hết nước) bảo quản trong chai màu vàng hay tránh ánh sáng có thể giữ màu lâu, nhưng nếu dầu gấc có pha dấu lạc dù dấu lạc đã trung tính thì rất chóng mất màu, chưa rõ nguyên nhân.

Thành phần hóa học

Trong nhân hạt gấc (mộc miết tử) có 6% nước, 2,9% chất vô cơ, 55,3% chất béo, 16,6% chất protit, 2,9% đường toàn bộ, 1,8% tanin, 2,8% xenluloza và 11,7% chất không xác định được. Ngoài ra còn có các men photphataza. invectaza và peroxydaza, một chất không tan trong ete dầu hỏa, trong ete etylic, tan trong cổn metylic và có những tính chất và cho các phản ứng của một sapotoxin với chỉ số bọt 5.600, chỉ số chết cả 16.600, chỉ số phá huyết 62 500 (F. Guichard và Đào Sĩ Chu, Hà Nội, 1941).

Theo Baines (Kew Bull, 1920: 6-12) trong hạt gấc không có ancaloit, chứa 47% so với nhân hoặc 29% (so với trọng lượng hạt cả vỏ cứng) dầu béo đặc ở nhiệt độ thường, khi mới ép có màu xanh lục nhạt, nhưng để lâu do tác dụng của ôxy và ánh sáng sẽ sẫm màu. Nếu đun nóng dầu cũng chóng sẫm màu. Dầu có tính chất nửa khô, nếu trộn với dầu khô, triển vọng có thể dùng trong kỹ nghệ sơn và vécni.

Trong màng đỏ hạt gấc Guichard và Bùi Đình Sang (1941) đã chiết được 8% dầu màu đỏ máu. Nếu tính từ quả hiệu suất chừng 1,9 lít đối với 100kg quả. Dầu gấc có chỉ số axit 2, chỉ số ist 72, gồm 44,4% axit oleic, 7,69% axit stearic, 33,8% axit panmitic, 14,7% axit linoleic là một loại vitamin F. (Nguyễn Văn Đàn-Phạm Kim Mãn, Thông báo dược liệu 2.1969). Dầu này sau khi ép hay chiết được bằng ête dầu hỏa để yên sẽ để lắng và kết tinh chừng 103% chất màu đỏ, sau đó nếu xà phòng hóa bằng rượu KOH rồi chiết bằng toluen, sẽ thu được thêm chừng 1,12% tinh thể nữa (tổng cộng 2.15 chất màu có tinh thể). Nếu tính trên quả tươi thì mỗi quả cho chừng 0,228g tinh thể có màu đỏ máu.

Tinh thể này có độ chảy 167-168°C, không có tác dụng trên ảnh sáng phân cực, pha thành dung dịch 1mg trong 1 lít cacbon sunfua cho 2 dải hấp màng, một dài giữa 4.990Å và 5.180Å và một đài giữa 5.406Å và 5.544Å. Tinh thể tan trong cacbon sunfua (cho dung dịch màu đỏ máu), trong clorofoc và ête dầu hỏa (cho dung dịch màu vàng đỏ), trong benzen cho dung dịch màu vàng cam), trong cồn etylic (màu vàng). Trọng lượng phân tử 568, cho với axit sunfuric đặc màu xanh chàm, phản ứng với thuốc thử carr và price (stibium clorua). Các tác giả (F. Guichard và Bùi Đình Sang) cho rằng tính chất của những tinh thể đó rất gần Caroten.

Theo sự phân tích của Nguyễn Văn Đàm (Nachweis von B-caroten in Momordica cochinchinensis-Naturwissencchaften 1959. Hefl is 18) thì trong 12ml có 4.000 đơn vị caroten B tương ứng với 6.666 đơn vị quốc tế vitamin A.

Tuy nhiên cũng nên biết rằng một tác giả Hà Lan (Bockenoogen 1949. The caroten content of the fruit of Momordica cochinchinensis spreng Philip. J. sci 78: 299-300) nghiên cứu gấc của Philipin đã kết luận rằng trong quả gấc chỉ có một lượng caroten không đáng kể.

Năm 1942, trong điều kiện phòng thí nghiệm P. Bonnet và Bùi Đình Sang đã chiết được từ 2.017kg quả gấc 38 lít dầu gấc và 0,3kg tỉnh thể caroten nữa (1g tinh thể trong 100g dầu lạc trung tính). Các tác giả này tính rằng trong 1ml dầu gấc có tới 30mg caroten tương ứng với 30.000 đơn vị caroten hay 50.000 đơn vị quốc tế vitamin A.

Năm 1990, Đinh Ngọc Lam và Hà Văn Mạo đã xác định trong dầu gấc có trên 0,1p-100 β-caroten, lycopen, các axit béo không no (axit oleic 44p.100, palmitic 33p.100 và axit linoleic 14p.100). Như vậy so với dầu gan cá thu dầu gấc có hơn 1,81p.100 B-caroten và 15 lần hơn so với carốt, uống vào lại thơm, ngon dễ chịu hơn.

Ngoài ra còn có một số chất vi lượng cần thiết cho cơ thể như đồng, sắt, coban và đặc biệt kẽm, (rất cần thiết cho những người bệnh mãn tính về gan) và selenium, một chất mới được biết rất cần thiết để phòng chống ung thư.

Tác dụng dược lý

Thí nghiệm trên Hm8803 hiện đang mở đã chứng minh dấu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, đặc biệt khi bôi trên các vết thương, vết loét, dầu gấc làm vết thương chóng lành và chóng lên da. Uống dấu gấc, bệnh nhân chóng lên cần (Huard, Rivoalen, Grenierboley và Riou, Hà Nội, 1942).

  • Chúng ta biết rằng theo Moore, Karrer và Euler chất caroten dưới tác dụng của men carotenaza có nhiều trong gan sẽ tách caroten thành 2 phân tử vitamin A.
  •  Một số người yếu gan ăn nhiều dầu gấc da sẽ có màu vàng. Nghỉ ăn một thời gian sẽ hết.

Năm 1990, Hà Văn Mạo, Đinh Ngọc Lam và cộng sự đã báo cáo: Trên súc vật thí nghiệm và trên người bệnh, từ năm 1986 đến nay chế phẩm dầu gấc CAGAVIT có khả năng sửa chữa các hư hỏng của nhiễm sắc thể, các khuyết tật về phôi thai do dioxin gây trên động vật, khả năng phòng ung thư cho người bị bệnh xơ gan, khả năng hạ thấp hàm lượng AFP ở nhiều người bị bệnh gan mãn tính và không có tác dụng phụ. Như vậy chúng ta có cơ sở để tin rằng chế phẩm dầu gấc có ích cho những người đã tiếp xúc nhiều với các tia xạ độc hại, với các hóa chất và những người đã bị viêm gan virut B, có nguy cơ bị bệnh ung thu gan.

Công dụng và liều dùng

Nhân hạt gấc: Hạt gấc chỉ mới thấy dùng trong nhân dân chưa có cơ sở nghiên cứu khoa học. Theo các sách cổ hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, vào 2 kinh can và đại tràng. Có tác dụng chữa mụn nhọt, tiêu thũng, dùng trong những trường hợp ngã, bị thương, sang độc, phụ nữ sưng vú, hậu môn sung thũng.

Uống trong và dùng ngoài. Chủ yếu dùng bởi ngoài.

Uống trong ngày 1 nhân nướng chín. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Dầu gấc được sử dụng từ năm 1942. Dùng trong những trường hợp cần đến vitamin A hay caroten: Bệnh chậm lớn của trẻ em, biến chứng về mắt (khô mắt, quáng gà), chữa các vết loét, triệu chứng của sức kém chống đỡ bệnh tật của cơ thể, làm cho mau lên da non, trong những vết bỏng, vết thương. Nhu cầu về vitamin A đối với cơ thể người lớn là 1-2mg một ngày, trẻ con đang tuổi lớn 3,6-4,8mg, lúc có thai và đang nuôi con 3mg. Nếu dùng caroten, số lượng phải dùng gấp 2 có lẽ vì một số bị cơ thể tích trữ.

Dùng trong với liều 5 giọt một lần, ngày 2 lần trước 2 bữa ăn chính, có thể dùng tới 20 giọt. Đối với trẻ em, dùng 5 đến 10 giọt 1 ngày.

Dùng ngoài dưới hình thức thuốc mỡ có 5 đến 10% dầu gấc; có thể dùng dưới hình thức dầu nguyên chất để bôi bỏng.

Rễ gấc: Một số người dùng nhầm với tên phòng kỷ hay nam phòng kỷ (thực tế phòng kỷ là một vị thuốc khác hẳn, xem vị này). Sao vàng tán nhỏ dùng chữa tê thấp, sưng chân.

Đơn thuốc có hạt gấc dùng trong nhân dân

Chữa trĩ lòi dom: Hạt gấc giã nát thêm một ít dấm thanh gói bằng vải đắp vào nơi bị trĩ (hậu môn) để suốt đêm.

Chữa sưng vú: Giã nhân hạt gấc với một ít rượu (30-40°) đắp lên nơi sưng đau.

The post Hạt Gấc – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/hat-gac-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Đông Trùng Hạ Thảo (Trùng Thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/dong-trung-ha-thao-la-gi-10-tac-dung-tuyet-voi-cua-dong-trung-ha-thao/ https://hmm88i.com/dong-trung-ha-thao-la-gi-10-tac-dung-tuyet-voi-cua-dong-trung-ha-thao/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:26:16 +0000 https://hmm88i.com/?p=24502 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Đông Trùng Hạ Thảo trang 899-901 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng. Tên khoa học Cordyceps sinensis (Berk) Sacc. Thuộc bộ Nang khuẩn Ascomycetes họ Nhục tòa khuẩn Hypocreaceae. Tên đông trùng hạ thảo vì […]

The post Đông Trùng Hạ Thảo (Trùng Thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Đông Trùng Hạ Thảo trang 899-901 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng.

Tên khoa học Cordyceps sinensis (Berk) Sacc.

Thuộc bộ Nang khuẩn Ascomycetes họ Nhục tòa khuẩn Hypocreaceae.

Tên đông trùng hạ thảo vì vị thuốc này vào mùa đông là con sâu, mùa hạ lại thành cây cỏ. Sách cổ coi đông trùng hạ thảo bổ ngang nhân sam.

Ở nước ta hiện đang dùng hai loại đông trùng hạ thảo.

  1. Đông trùng hạ thảo hiện còn đang phải nhập của Trung quốc sẽ mô tả dưới đây.
  2. Đông trùng hạ thảo của Việt Nam sẽ nói ở phần sau.

Ta cần chú ý để tránh nhầm lẫn.

Mô tả đông trùng hạ thảo

Đông trùng hạ thảo của Trung Quốc (Cordyceps) là một giống nấm mọc ký sinh trên sâu non của một loại sâu thuộc họ sau Cánh bướm. Nấm và sau hợp sinh với nhau. Vào mùa đông, con sâu non nằm ở dưới đất, nấm phát triển vào toàn thân con sâu để hút chất trong con sau làm cho con sâu chết. Đến mùa hạ, nấm sinh cơ chất (stroma) mọc chơi khỏi mặt đất, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sau, đào lấy tất cả xác sâu và nấm mà dùng.

Vị thuốc bao gồm cả nấm và sau, hái vào tháng 6-7. Rửa sạch, phơi khô, phun rượu vào rồi phơi khô hẳn. Bó thành từng bó 10-15 con một. Ngang chỗ nấm, người ta buộc sợi chỉ đỏ trông rất đẹp.

Vị thuốc như vậy gồm có phần sâu non dài 2,5-3cm, đường kính 3-5mm, màu vàng nâu hay xấn, nâu. Từ đầu con sâu mọc ra một thân nấm hình trụ đặc biệt có khi 2 hay 3 con sau. Thân năm thường dài 3-6cm, đặc biệt có thể dài 11cm. Phía dưới thân nấm có đường kính 1,5-4mm, phía trên to phình ra, cuối cùng lại thon nhọn,

cả phần này dài 10-45mm, đường kính 2,5-6mm. Nếu còn non thì đặc, nếu già thì thân rỗng. Dùng kính hiển vi, ta sẽ thấy phần phình to này có vỏ sẵn sùi, có những hạt nhỏ tức là từ nang xác nổi lên. Phần đầu thon nhọn không mang tử nang xác và dài từ 0,5-3,5mm.

Từ nang xác hình trứng hay hơi tròn, dài 380- 550μ. Đường kính 140-240μ (1μ = 1/1.000mm). Trong tử nang xác có chứa các nang hình sợi có cuống ngắn dài 240-485μ, đường kính 12-15μ. Trong nang có nhiều nang bào tử có nhiều vách riêng biệt dài 170-47μ- đường kính từ 5-5,5 hoặc 6 μ.

Tại Trung Quốc, đông trùng hạ thảo thường gặp ở những rừng ẩm ướt các tỉnh Tứ Xuyên, Văn nam, Tây Khang, Tây Tạng, nhiều nhất ở Tử Xuyên và Tây Khang.

Qua sự phân bố ở Trung Quốc, chúng ta chú ý phát hiện tại một số rừng ẩm ướt ở các tỉnh biên giới.

Còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng.
Còn gọi là trùng thảo, hạ thảo đông trùng.

Đông trùng hạ thảo của Việt Nam

Hằng năm tại Thất Khê (Lạng Sơn) hay Hòa Bình nhân dân có bản với tên đông trùng hạ thảo một loại sâu khác, sống trong thân cây thuộc ho lúa Graminae.

Sau này có tên khoa học Brinaspa atrostigmella thuộc họ sâu Cánh bướm (Lepidopterae). Nó sống trong thân cây chít (một loại lau) vẫn cho lá để gói bánh tro. Tên khoa học của cây chít là Thysanoloena maxima O. Kuntze họ Lúa Poaceae. Người ta còn gọi là cây đót, cây le, cây công.

Cây chít cao như cây bông lau, tháng 3-4 có bóng vọt lên, cứng dài hơn bông lau, người ta thường cắt về làm chổi quét bụi bàn ghế hay chổi quét vôi. Vào các tháng 11-12 vào rừng thấy những cây chít nào cụt, không có búp thường có sâu ẩn trong thân. Cắt ngang thân từ chỗ cành đến ngọn dài 50-60cm. Đem về xé đổi thân sẽ thấy con sâu ở trong. Thực ra đó chỉ mới là nhộng của con sâu . Brihaspa atrostigmella. Sau này đẻ trứng ở vỏ cây, nhộng nở ra chui vào và sống trong thân cây qua mùa đông.

Nhộng màu trắng vàng, dài khoảng 35mm. Thả vào chậu nước muối để rửa cho sạch. Sau đó rang hay sấy cho khô. Tẩm mật ong rồi lại sấy khô. Cuối cùng ngâm sau này vào rượu sẽ thấy các chất béo nổi lên như mỡ trong nước luộc gà.

Thành phần hóa học của đông trùng hạ thảo

Đông trùng hạ thảo Việt Nam chưa được nghiên cứu.

Trong đông trùng hạ thảo nhập ở Trung Quốc người ta đã lấy được chừng 7% một loại axit đặc biệt gọi là axit cocdixepic 3-4-5 tetraoxyhexahydrobenzoic, có cấu tạo tương tự như axit quinic. Nhưng các chất khác và hoạt chất chưa được biết.

Đông trùng hạ thảo chứa 25-32% protit. Khi thủy phân cho axit glutamic, prolin, histidin, valin và oxyvalin, acginin và alanin. Ngoài ra còn có 8,4% chất béo trong đó axit béo no chiếm 13%, axit không no chiếm 82,2% (axit linolic 31,69%, axit linilenic 68,31%) (theo Lưu Thọ Sơn và cộng sự-Trung dược nghiên cứu đề yếu, 1963, 126).

Ngoài ra người ta còn chiết được axit cordycepic chứng minh là D-mannitol (theo Sprecher M. và cộng sự-J. Org. Chem. 1963, 28, 2490).

Từ Cordyceps militaris (L.) Link. nuôi dưỡng trong môi trường người ta chiết được cordycepin 3′ deoxyadenosin C10H13O3N5

Tác dụng dược lý của đông trùng hạ thảo

  1. Đông trùng hạ thảo đã được Brewster và Aisberg nghiên cứu từ năm 1917 (J. Pharmacolog. 10, 1917). Theo tác giả này thì tiêm mạch máu hoặc dưới da thuốc đông trùng hạ thảo vào thỏ hoặc chuột nhắt trắng thì thấy hiện tượng ức chế, liều lớn tăng hô hấp và mạch đập nhanh hơn rồi con vật quằn quại mà chết. Thuốc chế bằng rượu không có tác dụng gì đối với thỏ.
  2. Năm 1952, Trịnh Phi Vũ (Trung hoa y học tạp chí) và Trịnh Táo Kiệt (Thú ý tạp chí) nghiên cứu thấy đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế đối với một số vi trùng.
  3. Năm 1958 hai tác giả Trung Quốc Trương Sỹ Thiện và Trương Bá Thạch có nghiên cứu kỹ tác dụng của đông trùng hạ thảo và đã đi đến một số kết luận sau đây (Dược học thông báo 5/ 1958):
  4. a) Nước sắc 1/10 đông trùng hạ thảo có tác dụng ức chế đối với tim cô lập và tại chỗ của ếch, cũng như đối với tim cô lập của thỏ. Tim đập chậm lại, nhưng sức bóp không tăng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Táo Kiệt, nhưng ông này cho rằng nếu lượng chất dầu béo trong đông trùng hạ thảo cao thì gây ức chế, ngược lại, nếu tỷ lệ dầu béo thấp thì lúc đầu có hiện tượng ức chế một thời gian rất ngắn rồi mới đến hiện tượng hưng phấn.

Đối với tim cô lập của thỏ, thuốc đông trùng hạ thảo làm tăng rõ rệt lượng huyết của tim.

Các kết quả trên phù hợp với kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân nói rằng đông trùng hạ thảo chữa khỏi bệnh đau tim.

  1. b) Đối với huyết áp: Kết quả thí nghiệm trên chó gây mê cho thấy nếu tiêm tĩnh mạch với liều 0,1-0,5 ml hoặc 1ml/kg thể trọng đều thấy huyết áp hạ xuống rõ rệt, 10 phút sau huyết áp trở lại bình thường. Tuy nhiên cho uống hoặc tiêm vào bụng với liều 2ml/kg thể trọng thì không thấy ảnh hưởng đối với huyết áp. Do đó tác dụng đối với huyết áp chưa thể kết luận được.
  2. c) Đối với khí quản (ống phổi): Thí nghiệm trên phổi và khí quản của chuột bạch, thấy thuốc đông trùng hạ thảo làm dãn khí quản nếu phối hợp với hoạt chất của thượng thận thì tác dụng của hoạt chất thượng thận lại tăng lên rõ rệt.

Kết quả thí nghiệm này phù hợp tới công dụng chữa ho, tiêu đờm, bảo vệ phổi của kinh nghiệm cổ truyền.

  1. d) Đối với mẫu ruột và tử cung cô lập: Tác dụng ức chế rõ rệt.
  2. e) Độc tính của thuốc: Độ độc của thuốc hết sức thấp. Với liều 5g/kg chuột bạch, chuột không có hiện tượng ngộ độc nào. Với liều 10-20g/kg thể trọng một phần chuột thí nghiệm bị chết, với liều 30-50g/kg thể trọng toàn số chuột thí nghiệm bị chết.

Triệu chứng ngộ độc của chuột như sau: Sau khi tiêm thuốc 2 phút rưỡi, chuột không nhanh nhẹn, sau 4 phút hô hấp chậm và dài, thường từ 180 lần/phút giảm xuống 46 lần/phút; sau 6 phút rưỡi chân trước bị tê liệt có vẻ như muốn nhảy nhót, sau đó có hiện tượng co quắp, hô hấp bị ức chế rồi chết.

Với liều nhẹ, con vật có trạng thái trấn tĩnh với những trình độ khác nhau, có con vật buồn ngủ và tình trạng này kéo dài hàng vài giờ.

Công dụng và liều dùng

Đông trùng hạ thảo là một vị thuốc được ghi vào tài liệu thuốc đông y vào giữa thế kỷ 18 trong bộ Bản thảo cương mục thập di (1765).

Theo sách cổ ghi chép, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, chữa ho, ho lao. Bổ tinh khí chữa đau lưng, bổ thận.

Liều dùng: Ngày uống 6-12g dùng với hình thức ngâm rượu uống.

Người ta cho rằng đông trùng hạ thảo ngâm rượu uống chữa chứng đau lưng, mỏi gối, tác dụng ngang với nhân sâm.

Theo tài liệu cổ, đông trùng hạ thảo có vị ngọt, tính ôn, vào 2 kinh phế và thận. Có tác dụng ích phế, thận, bổ tinh tủy, cầm máu, hóa đờm, dùng chữa hư lao sinh họ, ho ra máu, liệt dương, lưng gối đau mỏi, di tinh.

Đông trùng hạ thảo Việt Nam mặc dầu khác đông trùng hạ thảo nhập từ Trung Quốc, nhưng nhân dân cũng dùng như đông trùng hạ thảo nhập. Ngoài ra, người ta còn xào nấu với trứng mà ăn cho bổ, hoặc có người mua đông trùng hạ thảo Việt Nam về để nuôi chim họa mi.

Đông trùng hạ thảo

Đơn thuốc có đông trùng hạ thảo

  1. Thuốc chữa người già suy nhược, viêm khí quản mãn tính

Đông trùng hạ thảo 10 g, khoản đông hoa 6g, tang bạch bì 8g, cam thảo 3g, tiểu hồi hương 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Chữa bệnh suy nhược của người già yếu, viêm khí quản mãn tính.

  1. Thuốc bổ đông trùng hạ thảo

Đông trùng hạ thảo 15 con. Vịt già một con, bỏ lồng ruột cho sạch. Bỏ đối đầu vịt, cho đông trùng hạ thảo vào. Lấy dây gai buộc kín lại. Cài đầu vào bụng vịt rồi thêm mắm muối hầm như thường lệ, đem cho người ốm mới khỏi thân thể có hư yếu ăn. Người ta cho rằng ăn một con vịt như vậy cũng như uống 40g nhân sâm.

Đông Trùng Hạ Thảo

Trong cuốn Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi chủ yếu tập trung vào tính vị, công năng, tuy nhiên hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại quảng cáo Đông Trùng Hạ Thảo với vô vàn giá cả, xuất xứ khác nhau. Chúng tôi xin chia sẻ kinh nghiệm phân biệt và lựa chọn đúng Đông Trùng Hạ Thảo chất lượng.

Đông Trùng Hạ Thảo

Cách phân biệt Nấm Đông Trùng Hạ Thảo

Thủ thật làm Đông Trùng Hạ Thảo hàng kém chất lượng

Bằng những thủ đoạn tinh vi, đông trùng hạ thảo Tây Tạng giả, kém chất lượng khiến người tiêu dùng khó phân biệt, gây nên sự hoang mang, khiến nhiều người mất tiền nhưng lại phải dùng hàng đểu.

Dưới đây là 6 cách làm giả thường được sử dụng, bao gồm:

  • Trường hợp 1: Vỏ có thể trông là Đông Trùng Hạ Thảo nhưng bên trong đã hút hết tinh chất, sau đó bơm thuốc, bột quặng vào.
  • Trường hợp 2: Dùng Đông Trùng Hạ Thảo khai thác ở các vùng như Nepal, Butan, Himalaya,… để trộn lẫn hoặc gắn mác Đông Trùng Tây Tạng bán với giá đắt hơn.
  • Trường hợp 3: sử dụng thuật xuyên thép. Cụ thể là Đông trùng đã gãy nát, loại kém chất lượng được dùng sợi thép sâu lại với nhau.
  • Trường hợp 4: sử dụng thuật ghép dán. Cụ thể là dùng keo dán con Đông Trùng với mầm cây khác nhau để tạo hình dáng y như ĐTHT Tây Tạng.
  • Trường hợp 5: Bôi bột kim loại sơn lên mắt ĐTHT để giống mắt thật lại làm tăng trọng lượng kiếm lời.
  • Trường hợp 6: Lợi dụng phản ứng hóa học để nhuộm trùng thảo có màu nâu hồng hoặc màu nâu giống như ĐTHT Tây Tạng.
Đông Trùng Hạ Thảo
Phân biệt Nấm Đông Trùng Hạ Thảo

Phân biệt Đông trùng hạ thảo tự nhiên và Đông trùng hạ thảo việt nam nuôi cấy nhân tạo

Đặc điểm phân biệt Tự nhiên Nhân tạo
Quan sát bằng mắt Hình dáng Đông trùng hạ thảo giống như con tằm, phần trùng của nó màu vàng hoặc màu vàng sẫm. Phần thảo tức cơ quan sinh sản màu nâu đậm hơn. Bên cạnh đó phần sâu non dài từ 3-5cm, phần thảo dài 2-3cm. Thân nấm là dạng thân cỏ, có chiều dài khoảng 3-5cm, chiều rộng khoảng 0,5 cm. Nấm có màu vàng tươi, các sợi nấm phát triển không đồng đều, mập mạp. Khi còn tươi thì mọc từng cụm, từng khóm.
Vết nối Thông thường loại trùng thảo này có đầu sâu non và một đầu thảo gắn vào rất tự nhiên. Sẽ không có vết nối giữa hai bộ phận.
Vằn khía Đông trùng hạ thảo dạng sâu có nhiều vân, 1 gấp được cấu thành từ 3 vân. Thường có nếp gấp giao nhau rất bằng phẳng do việc sử dụng khuôn để làm ra.
Số chân trùng thảo Đông trùng hạ thảo gồm 8 đôi chân gồm: đầu ngực sâu 3 cặp chân, giữa thân có 4 cặp, cuối thân có 1 cặp. Ít hơn hoặc nhiều hơn 8 con không cố định.
Mắt cắt Khi cắt sẽ thấy máu trắng không xơ, ngay giữa lõi có dáng chữ V màu đen, đây là tuyến tiêu hóa của nó. Không có
Xúc giác Mùi giống nấm rơm, mùi tanh của nấm hương. Khi cầm vài con trùng thảo sẽ ngửi được mùi này nhẹ thoáng qua. Tuy nhiên nếu mở hộp lớn mùi hương này lan tỏa rất rõ ràng. Có mùi nước hoa giả, mùi hóa học hay mùi tanh của cá.
Khứu giác Đông trùng hạ thảo có mùi thơm như thịt gà. Có vị nồng của đất, nhai lâu bị dính răng và cứng như bột đất sét.
Đông Trùng Hạ Thảo
Mặt cắt của Đông Trùng Hạ Thảo

Đông Trùng Hạ Thảo dạng nhộng hay nấm được bán hiện này khá phổ biến, ngay ở các trung tâm thương mai hay siêu thị cũng có bán. Chủ yếu các dạng này thường được nuôi trồng và mọc theo khóm hoặc cụm, không phải dạng tách dời giống như Đông Trùng Hạ Thảo – Cordyceps sinensis. Vậy nên giá trị dinh dưỡng kém hơn rất nhiều so với loại thật.

Đông Trùng Hạ Thảo
Các loại Đông Trùng Hạ Thảo

Lưu ý khi sử dụng Đông Trùng Hạ Thảo

Ai không nên dùng đông trùng hạ thảo ? Nhìn chung, Đông Trùng Hạ Thảo an toàn với người dùng. Tuy nhiên đôi khi sử dụng nó cũng có thể gây khó chịu cho dạ dày, buồn nôn và khô miệng ở một số người.

Đặc biệt, trong những trường hợp bị ung thư, tiểu đường hoặc rối loạn chảy máu khuyến cáo không dùng Đông Trùng Hạ Thảo. Phụ nữ đang mang thai hoặc đang cho con bú và trẻ em nên tránh dùng Đông Trùng Hạ Thảo do những nghiên cứu và báo cáo chưa chứng minh được tính an toàn của nó.

Nếu bạn đang sử dụng bất kỳ một loại thuốc nào, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng bổ sung Đông Trùng Hạ Thảo, do nó có thể tương tác với các chất làm loãng máu và các thuốc ức chế hệ thống miễn dịch.

Một số lưu ý khi mua Đông Trùng Hạ Thảo

Hiện nay hàng thật giả của Đông Trùng Hạ Thảo trôi nổi trên thị trường rất nhiều. Vậy nên bạn cần lưu ý một vài điểm sau để có thể mua dược liệu này 1 cách chính xác và an toàn:

  • Mua ở những cơ sở uy tín, có đầy đủ các giấy chứng nhận xuất xứ, hồ sơ, nguồn gốc rõ ràng ở nơi thu hái.
  • Giấy tờ kiểm tra các hoạt chất, thành phần trong đông trùng.
  • Các cơ sở phải có đầy đủ giấy phép Chào mừng đến với Mh88.
  • Các cơ sở phải có kiến thức, hướng dẫn khách hàng về cách so sách, kiểm tra thật giả trực tiếp ở nơi bán hàng.

Để đặt mua Đông Trùng Hạ Thảo chính hãng, xin ấn vào nút MUA NGAY dưới đây:

 

Đông Trùng Hạ Thảo
Cấu tạo của Đông Trùng Hạ Thảo

The post Đông Trùng Hạ Thảo (Trùng Thảo) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/dong-trung-ha-thao-la-gi-10-tac-dung-tuyet-voi-cua-dong-trung-ha-thao/feed/ 0
Vị thuốc Ô Đầu – Phụ Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/o-dau-phu-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/o-dau-phu-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:22:14 +0000 https://hmm88i.com/?p=24497 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Ô Đầu – Phụ Tử trang 893-899 tải bản PDF tại đây. Trong đông y thường coi phụ tử là một vị thuốc bổ “dương” do đó có câu (sâm, nhung, quế, phụ) nhưng có nhiều người lại rất sợ phụ tử vì […]

The post Vị thuốc Ô Đầu – Phụ Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Ô Đầu – Phụ Tử trang 893-899 tải bản PDF tại đây.

Trong đông y thường coi phụ tử là một vị thuốc bổ “dương” do đó có câu (sâm, nhung, quế, phụ) nhưng có nhiều người lại rất sợ phụ tử vì coi đó là một vị thuốc rất độc. Vậy sự thật như thế nào?

Ô đầu và phụ tử là hai vị thuốc khác nhau. hay là cùng một vị? Do một cây hay do hai cây khác nhau?

Cần nắm vững ngay rằng ô đầu, phụ tử đều do một cây mà ra, nhưng do cách chế biến khác nhau mà ô đầu rất độc, thường chỉ dùng để xoa bóp bên ngoài, còn phụ tử ít độc hơn có thể dùng uống trong với liều khá cao. Tuy nhiên người ta thường dùng liều thấp. Trước khi giới thiệu cây ô đầu Việt Nam chúng tôi thấy cần thiết giới thiệu các vị ô đầu và phụ tử Trung Quốc và châu Âu, đã được nghiên cứu kỹ hơn, giúp ta hiểu vị ô đầu của ta hơn.

Âu Ô Đầu ( Aconitum napellus L.)

Còn gọi là Aconit napel.

Tên khoa học Aconitum napellus L.

Thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.

Âu ô đầu là rễ củ phụ (còn gọi là cù con) của cây Âu ô đầu phơi hay sấy khô. Có khi người ta dùng cả củ mẹ.

Mô tả cây

Âu ô đầu là một loại cỏ mọc khỏe, có rễ phình to thành củ, thân thường ít cành, 1 xẻ chân vịt, gần như lá ngải cứu, mặt trên màu xanh thẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, nhấm lá sẽ thấy vị nhạt sau như bị kiến đốt nhè nhẹ. Hoa mọc thành chùm, màu xanh thẫm đôi khi hơi tím nhạt, hoặc trắng, có đài hoa phía sau khum thành hình như cái mů.

Mùa nực rễ cái sẽ phình thành hình củ giống như củ đậu, phía trên mang thân cây mọc trong năm, ta thường gọi củ mang thân cây này là củ mẹ. Nơi gắn cổ rễ mọc ra một nhánh nối liền củ mẹ nói trên với một củ cũng hình củ đậu, nhưng mẫm hơn, trắng hơn, ta thường gọi là củ con (củ phụ). Trên đầu củ con này có một búp mang lá ngầm

Ô Đầu
Ô Đầu

Phân bố, trắng hải và chế biến

Cây âu ô đầu hiện chưa được di thực vào nước ta, nhưng nhiều triển vọng có thể trồng được. Trồng bằng hạt hay củ. Củ con chứa nhiều ancaloit hơn củ mẹ (có khi gấp 4). Củ mẹ hái trước khi hoa nở cũng chứa nhiều ancaloit, củ mẹ hái vào mùa thu thường chứa ít ancaloit, nghĩa là củ mang cây đang phát triển thì cây càng lớn, hoa và quả càng phát triển thì củ phải nuôi càng chứa ít ancaloit.

Rễ củ hái về phơi hay sấy khô là được.

Thành phần hóa học

Trong âu ô đầu có 3 ancaloit chính: aconitin, aconin và benzoylaconin. Aconitin độc nhất, chiếm 9/10 tổng số ancaloit trong củ. Thủy phân, aconitin sẽ cho axit axetic, axit benzoic aconin.

Như vậy ta thấy aconitin là axetyl benzoyl- aconin.

Hiện tượng thủy phần bắt đầu xảy ra ngay trong dung dịch nước hay rượu còn ở nhiệt độ thường. Hiện tượng này rất quan trọng vì nó giúp ta hiểu tác dụng khác nhau của ô đầu tùy theo thời gian bảo quản hay tùy theo cách dùng vì benzoylaconin có tác dụng 400-500 lần kém aconitin, còn aconin lại tác dụng 1.000-2.000 lần kém hơn.

Tác dụng dược lý

Khi ta nhấn ô đầu, chất aconitin sẽ gây cảm giác như kiến bò, sau đó thấy tế, như vậy chứng tỏ rằng lúc đầu aconitin kích thích đầu dây thần kinh ba nhánh (trijumeau), sau đó thì gây tê liệt. Với liều cao hơn, aconitin có thể tác dụng trên thần kinh cảm giác (hiện tượng kiến bò ở đầu ngón tay) thân nhiệt hạ thấp, mạch chậm, nhỏ và không đều, chân xỉu xuống, khó bước đi, cuối cùng có thể chết do ngạt. Aconitin rất độc: Chỉ cần một liều 0,000022 đến 0,00005g đối với mỗi kilôgam thể trọng có thể gây nên ngộ độc chết người.

Công dụng và liều dùng

Trong tây y, âu ô đầu thường được dùng làm thuốc chữa họ, ra mồ hôi. Thuốc độc dùng phải hết sức thận trọng.

Củ, lá, rượu thuốc âu ô đầu đều thuộc thuốc độc bảng A. Theo dược điển Pháp (1949): Bột củ ô đầu tán vừa mịn, qua mắt rây 24 là 100g. cồn 90° vừa đủ ngâm kiệt để có được 950g cồn ô đầu.

Rượu thuốc âu ô đầu dùng với liều 10 giọt đến 50 giọt mỗi ngày. Trẻ con từ 30 tháng đến 15 tuổi dùng với liều 5 đến 10 giọt một ngày. Do aconitin dễ bị thủy phân cho nên hằng năm cần phải thay thuốc một lần.

Các dạng thuốc khác ít dùng.

Ô Đầu và Phụ Tử (Aconitum sinense Paxt.)

Còn gọi là xuyên ô, thảo ô.

Tên khoa học Aconitum sinense Paxt.

Thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.

Ô đầu và phụ tử đều do rễ củ của một cây cung cấp, nhưng do cách chế biến khác nhau, nên được hai vị thuốc khác hẳn nhau:

Ô đầu (Radix Aconiti) là rễ củ mẹ của cây ô đầu-Aconitum sinense, đào về, rửa sạch phơi hay sấy khô. Vị thuốc này các vị lương y đều thống nhất coi là vị thuốc rất độc. Hiện được xếp vào loại thuốc rất độc bảng A.

Phụ tử là rễ củ con của cây ô đầu nói trên, nhưng đem về chế biến rồi mới dùng. Phụ tử lại chia ra diêm phụ, hắc phụ và bạch phụ củ, bạch phụ phiến. Các vị lương y có người coi là độc. nhưng có vị coi là không độc vì có thể dùng hàng gam đến 40-50g hay hơn nữa.

Mô tả cây

Cây ô đầu là loại cỏ sống lâu năm, cao chừng 0,6-1m. Tên cây trước đây nhiều tác giả đã xác định là Aconitum sinense Paxt, nhưng gần đây có tác giả đã xác định lại là Aconitum carmichaeli Debx. (Trung được chí tập 1, Bắc Kinh, 1961).

Rễ phát triển thành củ, có củ mẹ, củ con như cây âu ô đầu. Củ hái ở những cây trồng có thể tới 5cm đường kính. Lá mọc so le, phiến lá rộng 5- 12cm, xẻ thành 3 thùy, 2 thùy 2 bên lại xẻ làm 2, thùy giữa lại xẻ làm 3 thùy con nữa. Mép các thủy đều có răng cưa thô, to. Cụm hoa dài 10-20cm. hoa màu xanh tím, quả dài 2mm. Hoa nở vào tháng 6-7. Quả thu hoạch vào tháng 7-8.

Ô Đầu
Ô Đầu

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây này hiện chưa được trồng ở nước ta. Chủ yếu mọc hoang và được trồng ở Trung Quốc (Tứ Xuyên, Quý Châu, Văn Nam, Thiểm Tây, Cam Túc).

Củ thu hái vào cuối tháng 6 (hạ chí) đầu tháng 7 (tiểu mãn). Tùy theo yêu cầu muốn có ô đầu, phụ tử hay hắc phụ lựa chọn những củ và chế biến khác nhau như sau:

Ô đầu chọn những củ mẹ (khác với âu ô đầu, chỉ lấy củ con) cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất phơi hay sấy khô. Thuốc rất độc.

Diêm phụ còn gọi là phụ tử muối, hay sinh phụ tử, phụ tử sống. Chọn những củ con to nhất, cắt bỏ rễ con, rửa sạch cho vào vại, thêm vào đó magiê clorua (đảm ba), muối ăn và nước. Cứ 100kg phụ tử thì dùng 40kg magiê clorua, 30kg muối và 60 lít nước. Ngâm trong 10 ngày lấy ra phơi, phơi khô lại cho vào vại thêm nước, muối và magiê clorua để lúc nào cũng ngâm xâm xấp các củ. Sau đó mỗi ngày lại lấy ra phơi, tối lại ngâm. Thỉnh thoảng lại thêm muối, magiê clorua để lúc nào cũng giữ được nồng độ cũ. Cuối cùng phơi nắng để muối thấm vào tới giữa củ, mặt ngoài thấy có muối kết tinh là được. Loại phụ tử này được nhập vào nước ta với hình thức đựng trong các vại, trông giống như những củ khoai sọ, dài 6-10cm, quãng rộng có thể đạt tới 4- 6cm. Khi dùng có người chỉ rửa sạch hết muối, thái mỏng, phối hợp với các vị thuốc khác, đặc biệt cam thảo và gừng sống (sinh khương) sắc kỹ gạn lấy nước mà uống. Chúng tôi đã có dịp uống một Đăng Ký HM88.COM +88k có tới 80g sinh phụ tử phối hợp với cam thảo, gừng sống, sắc đặc, đồng thời còn chứng kiến có người dùng tới 50-200g sinh phụ trong một ngày mà lại uống luôn trong nhiều ngày.

Tuy nhiên nhiều người thường chỉ dám dùng sau khi đem sinh phụ trên nấu lại nhiều lần với đậu đen.

Hắc phụ: Chọn những củ con, to trung bình, rửa sạch đất cát, cho vào vại có chứa dung dịch magiê ngâm vài ngày, thông thường cử 100kg phụ từ sống dùng 40kg magiê clorua và 20kg nước. Sau đó cứ để như vậy, đun sôi 2-3 phút, lấy ra rửa sạch, để nguyên cả vỏ, thái thành từng miếng mỏng chừng 5mm rồi lại ngâm vào nước magie clorua nữa, cuối cùng thêm đường đỏ và dầu hạt cải mà tẩm và sao cho đến khi có màu nước chè đặc, cuối cùng lại dùng nước rửa cho đến khi hết vị cay tế là được, đem ra phơi khô hoặc sấy khô. Xem như vậy ta thấy chất aconitin có thể giảm đi rất nhiều, định lượng ancaloit cũng xác nhận như vậy.

Bạch phụ: Chọn những củ con nhỏ, rửa sạch, cho vào vại ngâm với nước có magie clorua vài ngày, sau đó đem đun cho tới khi chín tới giữa củ, lấy ra bóc vỏ đen, thái thành từng miếng mỏng dày chừng 3 mm, rồi cũng đem rửa cho tới khi hết vị cay, hấp chín, phơi khô, sau đó đem xông hơi điểm sinh cuối cùng phơi khô là được. Xem như vậy bạch phụ lại có thể chứa ít ancaloit hơn hắc phụ.

Theo tài liệu cổ, 6 đầu phụ từ đều có vị cay, ngọt, tính đại nhiệt, có độc, vào 12 đường kính. Phụ tử có tác dụng hỏi dương cứu nghịch, bổ hỏa, trợ dương, trục phong hàn, thấp tà; ô đầu sưu phong, táo thấp khứ hàn; phụ tử dùng chữa mồ hôi toát ra nhiều quá, vong dương (mất dương), chân tay quờ quạng, bụng quận đau, dương hư, sợ lạnh, mồ hôi trộm, ngực bụng lạnh đau, tả lỵ lâu ngày, phong hàn thấp tỳ (tế bại), đau nhức thận dương không đủ, cước khí, thủy thũng, mọi chứng trầm hàn cố lãnh. Ô đầu dùng chữa phong hàn thấp tỷ, các khớp sưng đau, chân tay co quắp, bán thân bất toại (liệt nửa người), đại hàn sinh đau bụng. âm thư lâu ngày không vỡ mủ, vết loét lâu ngày không liền miệng.

Những người âm hư, dương thịnh, phụ nữ có thai không dùng được. Ô đầu không được dùng chung với bán hạ, quá lâu, bỗi mẫu bạch cập.

Mặc dầu sinh phụ, hắc phụ hay bạch phụ đã được chế biến như vậy rồi nhưng khi dùng có người còn chế với đậu đen hay ngâm nước với nhiều lần rồi mới dám dùng. Chúng tôi thấy cũng cần theo dõi nghiên cứu để đi tới thống nhất một phương pháp bào chế phụ tử, có như vậy mới dễ đánh giá tác dụng trị bệnh của các loại phụ tử.

Thành phần hóa học

Qua các tài liệu của Trung Quốc và Nhật Bản, trong 6 đầu và phụ từ Trung Quốc cũng có những hoạt chất như âu ô đầu.

Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi cũng thấy như vậy, nhưng theo thứ tự từ nhiều đến ít như sau: Ô đầu, diêm phụ, hắc phụ, bạch phụ. Tuy nhiên chúng tôi tự hỏi, tại sao muốn giảm lượng ancaloit lại không dùng liều nhỏ cho khỏi lăng phí thuốc hoặc là trong phụ tử, ngoài aconitin ra còn có chất gì khác tác dụng chăng? Trong khi sắc phối hợp với những vị thuốc khác có gì thay đổi không? Đó là những vấn đề tồn tại trong thành phần hóa học của phụ tử.

Một số bản khoản của chúng tôi gần đây đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Nhật Bản trả lời như sau:

  1. Trong quá trình sắc thuốc (đun sôi và giữ sôi lâu) các ancaloit của phụ tử chế, tiếp tục bị phân hủy.
  2. Khi sắc Đăng Ký HM88.COM +88k “Tử nghịch thang” (phụ tử được phối hợp với cam thảo và gừng) độc tính của phụ tử còn giảm nhiều hơn so với nước sắc phụ tử riêng biệt, hoặc khi sắc phụ từ riêng. gừng riêng và cam thảo riêng rồi mới trộn ba dịch sắc riêng ấy với nhau. Người ta cho rằng, khi sắc phối hợp ba vị phụ tử, gừng và cam thảo, ngoài sự phân hủy aconitin bởi nhiệt, có thể còn sự hóa hợp giữa axit glucuronic của cam thảo với những ancaloit trong phụ tử.
  3. Đông y không sử dụng các ancaloit độc trong phụ thử mà dùng các chất gây tác dụng cường tim trong ô đầu, phụ tử. Có lẽ chất “hồi dương cứu nghịch” hay “khởi từ hồi sinh” nói trong đông y là nằm ở đây. Tại Nhật Bản, người ta đã chiết từ nước sắc phụ tử chất higranim có tác dụng cường tim rất mạnh. Higranim rất bền với nhiệt độ, với áp suất, trong môi trường nước axit hóa, ở nồng độ 10g vẫn có tác dụng cường tim. Sau khi hấp 110-115 C trong 40 phút, hiệu lực cường tim chi giảm 2 lần, trong khi đó DL. 50 giảm độc tới 200 lần (Trung thảo được học- Trung vän).
  4. Tác dụng cường tim còn liên quan đến sự có mặt của ion Cat trong nước sắc đơn thuộc có phụ tử. Nguồn ion Ca” này một phần có trong axit canxiphotphoaconitic trong phụ thử, một phần có trong nước muối, nước ót dùng chế phụ từ. Nước sắc phụ tử chế có tác dụng mạnh hơn nước sắc phụ tử sống (ô đầu) do nước sắc phụ tử chế có hàm lượng ion Ca+2 nhiều hơn. Nếu loại các ion Ca+2khỏi nước sắc thì tác dụng cường ‘tim cũng giảm đi khá nhiều (Trung được hóa học, 832, Võ Xuân Minh-TCĐY 1983, 184).

Công dụng và liều dùng

Trong đông y, ô đầu chỉ được dùng ngâm rượu để xoa bóp khi bị đau nhức, mỏi chân tay. Đặc biệt lắm mới có người dùng cho uống để chữa bán thân bất toại, chân tay co quắp, mụn nhọt vỡ lâu không liền miệng. Liều thường dùng là 3-4g, sắc uống hay ngâm rượu.

Phụ tử: Đông y coi là một vị thuốc hồi dương,

khử phong hàn, dùng chữa một số triệu chứng nguy cấp, mạch gần như không có, ra nhiều mồ hôi (thoát dương) chân tay tê mỏi vv… với liều 4-12g dưới dạng thuốc sắc. Dù sao dùng thuốc này cũng phải hết sức thận trọng, chưa quen không nên dùng. Một số người dùng với liễu cao hơn, có khi tới 100g hay hơn, nhưng thường phối hợp với cam thảo, can khương và sắc rất kỹ và lâu.

Đơn thuốc có ô đầu phụ tử

Chữa chân tay đau nhức, khớp xương sưng đau:

Rượu phụ tử quế chi (Đăng Ký HM88.COM +88k của Trương Trọng Cảnh) ô đầu lg, quế chỉ lg, cam thảo lg, thược dược 2 g, táo đỏ 4g, rượu 100ml. Ngâm trong 3 ngày, lọc bỏ bã lấy rượu. Ngày uống 60ml rượu này chia làm nhiều lần uống, Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ chân tay đau nhức, khớp xương sưng đau.

Chú ý:

  1. Bạch phụ tử còn dùng để chỉ hai Vị khước khác: Rễ củ của cây Typhonium giganteum Engl. (cây này ở ta chưa thấy có) thuộc họ Ráy Araceae và cây san hồ hay bạch phụ từ Jat-ropha multifida L. thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.
  2. Trên thị trường còn có bán một loại thuốc gọi là thảo 6 là rẻ một cây Aconitum khác.

Ô Đầu Việt Nam

Còn gọi là củ gấu tàu, củ ấu tàu (đừng nhầm với vị hương phụ có tên là củ gấu, xem vị này). cố y (Mèo Nghĩa Lộ).

Tên khoa học Aconitum fortunei Hemsl, (A. conitum sinense Sieb., Aconitum kusnezoffii Reichb var bodinieri Fin. et Gagnep).

Thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.

Cây này trước đây được Dr Daels giám đốc vườn Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live Berlin Dahler xác định là Aconitum semigaleatum.

Mô tả cây

Đây là một loại cỏ cao 0,6-1m, thân mọc thẳng đứng, có lông ngắn. Lá hình mắt chim. Chia thành 3 thùy, đường kính 5-7cm, thùy hơi hình trứng dài, có răng cưa ở nửa trên. Hoa lớn, màu xanh tím mọc thành chùm dày dài 5-15cm. Lá bắc nhỏ. Đài sau giống hình mũ nóng. Quả có 5 đại, mỏng như giấy, dài 23mm, hạt có vẩy ở trên mặt.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang ở các vùng núi cao biên giới nước ta: Lào Cai (Sapa), Hà Giang, Khu Tây Bắc (Nghĩa Lộ). Thường thấy tại các savan cỏ. Hoa nở vào tháng 10-11. Rễ củ hái vào các tháng 7-10 trước khi cây ra hoa, là lúc củ có kích thước to nhất. Trước đây khi hái thường cứ để nguyên một mẩu thân dài chừng 15cm, để dễ bỏ lại thành từng bó 20 củ một, phơi khô. Riêng tại Nghĩa Lộ, một năm ta có thể thu mua tới vài tấn ô đầu khô. Thời Pháp những củ này được xuất sang Trung Quốc để rồi lại nhập sang ta với tên 6 đầu hay thảo 6 đầu. Do cách chế biến, chúng ta thấy nên xếp vào loại ô đầu.

Thành phần hóa học

Ô đầu của ta chứa chừng 5 phần nghìn ancaloit toàn phần, tan trong nước. Cả con chứa nhiều ancaloit hơn. Khi xác định liều tối đa gây độc, người ta thấy những ancaloit đó có độ độc của aconitin. Khi bị phá hủy các ancaloit đó sẽ cho các chất ít độc hơn. Có tác giả sau khi nghiên cứu, đã đề nghị dùng 6 đầu Việt Nam thay ô đầu của châu Âu (Revue médico chirurgicale Francaise 3, 1942: 441-442).

Chúng tôi đang nghiên cứu để xem có thể chế biến thành phụ tử như của Trung Quốc không.

Công dụng và liều dùng

Tại những vùng có cây này mọc hoang, nhân dân thường hái thái mỏng ngâm rượu, dùng xoa bóp những nơi nhức mỏi, sai khớp, dập gãy chân tay. Những năm gần đây, thấy quốc doanh dược liệu thu mua, có người cho đó là một vị thuốc hỏa uống quá liều nên đã xảy ra một số vụ ngộ độc. Tà có thể chế ô đầu của ta để thay âu ô đầu. Công dụng và liều dùng coi vị âu ô đầu.

The post Vị thuốc Ô Đầu – Phụ Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/o-dau-phu-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Cải Xoong – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-cai-xoong-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-cai-xoong-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:17:12 +0000 https://hmm88i.com/?p=24493 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Cải Xoong trang 892-893 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là đậu ban thái, thủy điều thái, tây dương thái. Tên khoa học Nasturtium offcinale R. Br. (Rorippa nasturtium aquaticum Hayek). Thuộc họ Cải Brassicaceae (Cruciferae). Đây là một cây vốn không […]

The post Cây Cải Xoong – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Cải Xoong trang 892-893 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là đậu ban thái, thủy điều thái, tây dương thái.

Tên khoa học Nasturtium offcinale R. Br. (Rorippa nasturtium aquaticum Hayek).

Thuộc họ Cải Brassicaceae (Cruciferae).

Đây là một cây vốn không mọc tự nhiên ở nước ta, hiện được trồng ở khắp nơi. Tên cải xoong do tên chữ Pháp Cresson phiên âm ra.

Cải xoong vừa là thức ăn, vừa cho ta thân và lá để làm thuốc.

Mô tả cây

Cây thuộc thảo sống lâu năm, ưa sống ở những nơi nước trong, chảy nhẹ nhưng chảy luôn. Thân dài 10-40cm, thân bò có mọc rễ, màu xanh lục. Lá mọc so le, kép lòng chim, gồm 1-4 đổi lá chét. Lá chét hình trứng, không đều, nguyên

hay hơi khía tai bèo. Hoa nhỏ trắng mọc thành chùm ở đầu cành. Quả giác nghĩa là một thứ quả khô, khi chín nứt bởi 4 đường dọc thành hai mảnh vỏ, để vách giả cũ của bầu mang hạt lại ở giữa. Giác có cuống ngắn, ở đầu có mỏ ngắn, trong giác có nhiều hạt. Toàn cây có mùi đặc biệt, nhưng mùi chỉ xuất hiện khi vò; vị hơi đắng và hắc.

Mùa rau ăn: Đông xuân. Mùa hoa tháng 4-5. Dùng làm thuốc hái trước khi ra hoa hoặc đang ra hoa.

Cây Cải Xoong
Cây Cải Xoong

Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện được trồng khắp mọi nơi ở Việt Nam để làm rau ăn sống (trộn dầu giấm) hoặc nấu canh với thịt.

Mọc hoang ở các nước khác trên thế giới có khí hậu ôn đới hay nhiệt đới. Thường chỉ dùng tươi.

Thành phần hóa học

Cải xoong tươi cho khoảng 70% dịch cây giã và ép lấy nước.

Trong cải xoong có chất đắng, chất sắt, phốtpho, iốt (1mg trong 100g) vitamin C và một glucozit gọi là nasturtiozit khi vò hay giã nát. Chất nasturtiozit tiếp xúc với men myrosin ở những tế bào khác sẽ cho chất senevol phenyl etylic làm cho vị thuốc có mùi đặc biệt và có tác dụng chữa ho. Tỷ lệ tinh dầu khoảng 0,05%.

Tác dụng được lý

Piere Binet cho biết ông đã thí nghiệm thấy nếu cho chuột bạch ăn với liều 1g cải xoong một ngày đủ bảo vệ chuột khỏi bệnh scorbut, ông còn cho biết cải xoong chế thành thuốc tiêm, tiêm cho chuột và chuột nhắt thấy có tác dụng hạn chế sự phát triển bệnh ung thư thực nghiệm.

Do chất senevol, cái xoong có tác dụng tốt đối với sự bài tiết của phổi.

Công dụng và liều dùng

Ngoài công dụng làm thực phẩm, rau cải xoong còn dùng làm thuốc họ (lao phổi), viêm phế quản kinh niên, thuốc bổ Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ scocbut (chảy máu chân răng)

Có người dùng Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đái dường và chữa các bệnh ngoài da. Tuy nhiên cần chú ý có một số người dùng rau cải xoong hay bị bệnh đau bàng quang rất khó chịu.

Ngày uống 60-150g rau tươi và ép lấy nước. Nếu sắc sẽ kém tác dụng vì hoạt chất senevol sẽ bay hơi.

The post Cây Cải Xoong – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-cai-xoong-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Ngũ Vị Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-ngu-vi-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-ngu-vi-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:14:04 +0000 https://hmm88i.com/?p=24489 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Ngũ Vị Tử trang 889-892 tải bản PDF tại đây. Vị thuốc có đủ năm vị: Ngọt, chua, cay, đắng và mặn do đó đặt tên. Trên thị trường, người ta phân biệt ra hai loại ngũ vị tử: Bắc ngũ vị tử-còn […]

The post Cây Ngũ Vị Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Ngũ Vị Tử trang 889-892 tải bản PDF tại đây.

Vị thuốc có đủ năm vị: Ngọt, chua, cay, đắng và mặn do đó đặt tên.

Trên thị trường, người ta phân biệt ra hai loại ngũ vị tử:

  1. Bắc ngũ vị tử-còn gọi là ngũ vị tử, liều ngũ vị, sơn hoa tiểu (Hắc Long Giang) (Fructus Sechizandrae) là quả chín phơi hay sấy khô của cây bắc ngũ vị tử (Schizandra sinensis Baill.) thuộc họ Ngũ vị Schizandraceae.
  2. Nam ngũ vị tử-Fructus Kadsurae là quả chín phơi hay sấy khô của cây nam ngũ vị tử hay cây nắm cơm Kadsura japonica L. cùng họ Ngũ vị Schizandraceae.

Tuy gọi là nam ngũ vị tử nhưng là nam đối với Trung Quốc. Cả hai vị ngũ vị tử hiện ta vẫn còn phải nhập. Tuy ở Việt Nam ta cũng có một loài Kadsura coccinea A. C Sm. những chưa thấy được khai thác.

Mô tả cây

Cây bắc ngũ vị tử Schizandra sinensis Baill. là một loại dây leo to, có thể mọc dài tới 8m, vỏ cành màu xám nâu với kẻ sần nổi rõ, cành nhỏ hơi có cạnh. Lá mọc so le, cuống lá nhỏ, dài 1,5-3cm, phiến lá hình trứng rộng, dài 5-11cm,rộng 3-7cm, mép  có răng cưa nhỏ, mặt trên sẫm hơn, gân lá non thường có lông ngắn. Hoa đơn khác gốc, cánh hoa màu vàng trắng nhạt, có mùi thơm, cánh hoa 6-9, nhị 5, quả mọng hình cầu, đường kính 5-7mm, khi chín có màu đỏ sẫm, trong chứa 1 đến 2 hạt. Tại Trung Quốc mùa hoa 5-7, mùa quả 8-9.

Cây nam ngũ vị tử theo tài liệu (Trung được chí, tập 2-1959) thì cũng là một loài Schizandra sphenanthera Rehd, et Wils. cùng họ, hình thái gần giống cây bắc ngũ vị tử nhưng khác nhau ở chỗ hoa bắc ngũ vị tử chỉ có 5 nhị còn cây nam ngũ vị tử có tới 10-15 nhị.

Tuy nhiên theo nhiều tài liệu trước thì nam ngũ vị tử được khai thác ở những loài Kadsura japonica L. (Trung Quốc được dụng Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live đồ giám-1960), Kadsura longepedunculata Fin. et Gagnep. (Quảng Châu Nhà Cái HM88.COM Slot Game, Casino Live chỉ 1956) hoặc Kadsura japonica Dun. (Thực vật học đại từ điển-Trung Quốc) (Hình 666, Hm 29,2).

Ở đây chúng tôi chỉ mô tả một loài Kadsura có ở nước ta là Kadsura coccinea A. C. Sum. (còn có tên khác là Kadsura sinensis Hance hay Schizandra hanceana Baill.): Đây là một loài dây leo với cành phân nhiều nhánh, gáy, trên mặt phủ lớp phấn bài tiết, về sau trở thành kế sản dài. Lá mọc so le, hình mác với phía cuống hơi tròn, dài 6-19cm, rộng 3-4cm, mặt dưới màu nhạt, nhẵn. Hoa đơn tính, mọc ở kẽ lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một nắm cơm (do đó có tên cây nắm cơm) hay như một quả na to. Tên lào là repa-ropo hay xung-xe.

Mặc dầu có ở nước ta nhưng chưa thấy khai thác.

Ngũ Vị Tử
Ngũ Vị Tử

Phân bố, thu hái và chế biến

Bắc ngũ vị tử mọc ở Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây, Hồ Bắc, Thiểm Tây, Cam Túc, Nội Mông), vùng Viễn Đông nước Nga, Triều Tiên. Ngũ vị tử Triều Tiên được coi là loại tốt. Đến mùa thu, quả chín, hái về loại bỏ cuống và tạp chất phơi hay sấy khô. Những quả màu đỏ, hay tím đỏ, thịt dày, mẫm, bóng được coi là tốt. Trong quả có một hay hai hạt hình thận màu vàng nâu. Điều cần chú ý là trong sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trần thì ngũ vị tử chia hai loại: Nam ngũ vị tử có màu đỏ, bắc ngũ vị tử được coi là tot hon.

Theo cách dùng trong nhân dân thì muốn cho ngũ vị tử có màu đen thì trộn ngũ vị tử với rượu (cứ 10kg ngũ vị tử dùng 2kg rượu) đun cách thủy trong 4 giờ cho đến khi rượu cạn hết, màu chuyển đen đem phơi hay sấy là được.

Nam ngũ vị tử theo Trung được chỉ thì nam ngũ vị tử chỉ được khai thác để dùng tại chỗ cho nên chưa chắc có bán sang Việt Nam ta. Cây nam ngũ vị tử Schizandra sphenanthera có ở Trung Quốc tại các tỉnh Hà Nam, An Huy, Triết Giang, Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Văn Nam, Sơn Tây, Thiểm tây, Cam Túc. Hình thái sau khi chế biến cũng như bắc ngũ vị tử nhưng thịt mỏng hơn, không bóng, được coi như kém hơn bắc ngũ vị tử.

Cây nắm cơm ở ta chưa thấy được khai thác. Theo Pételot có mọc ở Lào Cai (Sa Pa), Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Lào, nhưng chưa ai thấy lại. Petelot có nói là tại làng Nghĩa Trai (Hưng Yên) có trong một cây mang tên ngũ vị tử hay nắm cơm nhưng vị thuốc hoàn toàn không giống ngũ vị tử bắc và tác giả lại cho rằng đây chỉ là hạt của cây Alangium salviifolium Wang.

Tóm lại vị ngũ vị tử hiện nay hoàn toàn còn phải nhập.

Thành phần hóa học

Bắc ngũ vị tử có tính dấu (vỏ cây 2,6-3,2%, hạt 1,6-1,9%, thân 0,2-0,7%) mùi chanh, với thành phần chủ yếu gồm 30% hợp chất sesquiterpen, 20%andehyt và xeton, quả chứa 11% axit xitric, 7-8,5% axit malic, 0,8% axit tactric, vitamin C và chừng 0,12% schizandrin (C,H,O,), thịt quả chứa 1,5% đường, tanin, chất màu, hạt chứa khoảng 34% chất béo gồm glyxerit của axit oleic và linoleic.

Schizandrin là một chất có tinh thể, không có nito.

Trong tro có sắt, photpho, mangan, silicium và canxi. Không thấy glucozit hay ancaloit.

Nam ngũ vị tử (Kadsura japonica L.) có chất nhảy trong thân và quả. Trong quả còn có pec- tin, glucoza, tinh dầu, axit hữu cơ, protit và chất béo.

Tác dụng được lý

Nhân dân vùng Viễn Đông nước Nga biết tác dụng bổ của ngũ vị tử từ lâu: Những người đi săn thường mang theo mình, mỗi ngày chỉ cần ăn một vốc tay quả khô là có thể đi săn cả ngày không cần ăn uống mà vẫn không thấy

mệt. Cũng tại đây người ta còn dùng thân, vỏ cây và quả phá nước như pha chè uống để đỡ mệt nhọc.

Đông y Trung Quốc và Việt Nam coi ngũ vị tử là một vị thuốc bổ thận dùng trong những trường hợp thân thể mệt nhọc, uể oải không muốn làm gì, còn dùng chữa họ, liệt dương.

Ngũ vị tử được các nhà nghiên cứu dược lý hết sức chú ý kiểm tra tìm hiểu những kinh nghiệm của nhân dân, đặc biệt tại Liên Xô cũ, Triều Tiên.

  1. V. Drake, V. A. Ephimova, L. N. Markova (1949, 1954) đã chứng minh rằng với liều nhỏ và trung bình (0,2-0,5mg/1kg thể trọng) tiêm vào mạch máu (dạng nước hãm) có tác dụng làm mạnh hệ thống tim mạch của những động vật máu nóng, làm mạnh huyết áp và tăng biên độ co của tim, kích thích hô hấp, tăng nhịp và làm sau biên độ hô hấp; với nồng độ 1:1.000- 1:2.000 làm giãn mạch tai cô lập của thỏ từ 40-

60 đến 100%.

Thí nghiệm còn chứng minh rằng nước hãm và còn quà ngũ vị tử với liều 0,2-0,3mg/kg thể trọng có tác dụng kích thích hệ thống thần kinh, làm tăng khả năng phản xạ có điều kiện trên chuột bạch bình thường hãy đã gây mê. Thuốc chế từ quả và hạt có tác dụng mạnh hơn là thuốc chế từ vỏ và thân cây.

Ngũ vị tử tán nhỏ cho uống có tác dụng kích thích đối với phản xạ chân sau của chó. Với liều cao (3g/1kg thể trọng) có tác dụng kích thích đối với hệ thống thần kinh trung ương và sau cùng thì ức chế chức năng này. Khi dùng liều nhỏ (0.5-1g/1kg) thì tác dụng bắt đầu sau 4-6 giờ, liều cao hơn (tác dụng xuất hiện sau 1-2 giờ), thời gian tác dụng kéo dài từ 4-20 giờ.

  1. A. Ephimova còn nghiên cứu tác dụng của ngũ vị tử đối với khả năng kích thích của hệ thống thần kinh cơ trên người từ 18 đến 54 tuổi đã nhận thấy rằng 11 người trên 13 người uống ngũ vị tử đã thấy khả năng kích thích của thần kinh cơ được tăng lên, chức năng của hệ thần kinh ngoại vi được mạnh lên. Đối với thiếu niên, liều 0,5g, đối với người trưởng thành liều 1,5g cho tác dụng mạnh nhất.

Công dụng và liều dùng

Tại nước ta, ngũ vị tử còn chỉ mới được sử dụng trong phạm vì một vị thuốc đông y, tại Liên Xô cũ, Triều Tiên và một số nước khác, ngũ vị tử đã được sử dụng như một vị thuốc tây y.

Tính chất ngũ vị tử theo đông y là: Vị chua, mặn, tính ôn, không độc, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng liễm phế, cố thận, cố tinh, chỉ mồ hôi, dùng làm thuốc trừ đờm, tu bổ, cường âm, ích khí, bổ ngũ tạng, thêm tinh trừ nhiệt.

Trong đông y, ngũ vị tử là một vị thuốc dùng chữa họ, hơi thở hổn hển, họ khan, còn dùng làm thuốc cường dương, chữa liệt dương và mệt mỏi, biếng hoạt động. Tuy nhiên đối với những người có biểu tà, có thực nhiệt thì không nên dùng.

Trong tây y (Nga) ngũ vị tử được dùng làm thuốc kích thích hệ thống thần kinh trung ương, trong trường hợp lao động chân tay và trí óc quá độ, mệt mỏi về tinh thần và thể lực, uể oải buồn ngủ.

Dùng dưới dạng cồn thuốc, bột hay thuốc viên:

Cồn ngũ vị tử chế bằng cồn 70 thì dùng với liều 30-40 giọt một lần, ngày dùng 2 lần, chế với cồn 90° thì dùng mỗi lần 20-30 giọt, ngày dùng hai đến ba lần. Thường đóng thành lọ 25- 50ml.

Bột ngũ vị tử dùng mỗi lần 0,5g, ngày uống hai lần. Viên cũng như vậy. Cao chế từ hạt dùng cồn 70 theo tỷ lệ 1:3, dùng mỗi lần 20-30 giọt, mỗi ngày uống ba lần.

Ngũ vị tử còn dùng để tăng sức khi đẻ: Dùng cao hạt ngũ vị tử (cồn 70° với tỷ lệ 1:3), cho uống ba lần mỗi lần 20 đến 30 giọt, mỗi lần cách nhau một giờ.

Tài liệu hướng dẫn ngũ vị tử của Liên Xô cũ đều nói sử dụng cần có theo dõi của thầy thuốc để tránh hiện tượng thần kinh và tim mạch bị kích thích quá. Không nên dùng đối với những trường hợp thần kinh đã bị quá kích thích, cao huyết áp, rối loạn tim.

Đơn thuốc có ngũ vị tử trong nhân dân 

Chữa liệt dương: Ngũ vị tử 600g tán uống, mỗi lần 4g. Ngày uống ba lần. Kiêng thịt lợn, cá, tỏi, đâm. Uống hết đơn thì khỏe, giao hợp được (theo Thiên Kim Phương-tài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa thận hư, tiểu tiện trắng đục, đau suốt hai bên sườn và lưng: Ngũ vị tử sao dòn, tán bột, lấy dấm thanh nấu hồ luyện thành viên nhỏ bằng nửa hạt đậu xanh, mỗi lần uống 30 viên. chiêu bằng nước nóng (theo Thiên Kim Phương. tài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa phụ nữ âm môn giá lạnh: Ngũ vị từ 160g tán bột, dùng nước tiểu trộn làm thành viên bằng hạt ngô, để vào âm môn (theo Cận Hiệu Phương-tài liệu cổ chưa kiểm tra).

Chữa họ lâu, phổi viêm: Ngũ vị tử 80g, túc xác tẩm với đường sao qua 20g, hai vị tán bột, luyện với kẹo mạch nha viên bằng quả táo mỗi lần ngậm một viên (theo Vệ sinh gia bảo- tài liệu cổ).

Chữa họ đờm và thở: Ngũ vị tử, bạch phần hai vị bằng nhau, cùng tán bột, mỗi lần dùng 12g, lấy phổi lợn nướng chín, chấm bột mà ăn, chiều bằng nước nóng (theo Phổ Tế Phương-tài liệu cổ).

The post Cây Ngũ Vị Tử – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-ngu-vi-tu-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Sóng Rắn – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-song-ran-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-song-ran-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:10:04 +0000 https://hmm88i.com/?p=24484 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Cây Sóng Rắn trang 888-889 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là sóng vận, sóng rắn nhiều lá. Tên khoa học Albizzia myriophylla Benth. Thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae). Từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ở nhiều tỉnh […]

The post Cây Sóng Rắn – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Cây Sóng Rắn trang 888-889 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là sóng vận, sóng rắn nhiều lá.

Tên khoa học Albizzia myriophylla Benth.

Thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae).

Từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, ở nhiều tỉnh phía Nam người ta dùng cây này thay vị cam thảo. Chúng tôi giới thiệu ở đây để tránh sự nhầm lẫn.

Mô tả cây

Cây bụi mọc cao 2-4m, tựa hay leo, thân có vỏ màu nâu, cành non có lông màu hung. Lá kép có cuống chung dài 9cm, với 9-16 cặp lá chét, mỗi lá chét lại có từ 20-40 cặp lá chét thứ cấp, dài 5-8mm, rộng 1mm, có lông ở dưới và ở địa. Cụm hoa hình tán, mang hoa hình bán cầu, dài 1mm, vành 4mm, có lòng vàng, 15 tiểu nhụy, quả giáp dài 12cm, rộng 2cm chứa 4-9 hạt dài 6mm màu nâu.

Cây Sóng Rắn
Cây Sóng Rắn

Phân bố, thu hái và chế biến 

Mọc hoang dại ở các tỉnh phía Nam, trước đây không thấy khai thác, chỉ những năm gần đây dựa vào vị ngọt của vỏ thân và vỏ rễ người ta khai thác với mục đích dùng thay cam thảo. Thực tế đây là một sự nhầm lẫn giả mạo. Có thể phát hiện sự giả mạo này bằng cách soi bột và vì phẫu, hình dạng, mùi vị: Rễ cam thảo có đường kính đều 5-20mm, màu đỏ nâu, nơi vỏ nứt lộ ruột màu vàng, còn sống rắn có đường kính to nhỏ không đều 50-70mm, vỏ rễ vàng xám nhạt, vỏ rễ có lốm đốm trắng. Rễ cam thảo có vị ngọt thấm lâu và dịu, còn vỏ sóng rắn có vị gắt làm hắt hơi, ngọt ít hơn nhưng sau đó làm tê lưỡi và mất vị giác. Vi phẫu sóng rắn có vòng cương mô liên tục ở miễn và rễ, tia tủy nhỏ nên các chùy libe không rõ, còn cam thảo không có vòng cương mô liên tục, tia tủy lớn nên các chùy libe phân cách rõ ràng (Hồ Đắc Ân, Lưu Trọng Hồ và Đô Thị Bảo Hạnh-Dược học-6. 1978, 6-9).

Thành phần hóa học

Trong rễ sóng rắn có 0,035% ancaloit, màu trắng ngà, vị rất đắng, 6% saponin thỏ màu vàng nâu nhạt, vị gắt cay, hút ẩm ở ngoài không khí. Ngoài ra còn có cho phản ứng flavonoit và steroit.

Cho chuột nhất (trọng lượng 20g) uống dung dịch nước với liều 18g/kg thể trọng đến 20g/kg chuột chết sau 2 đến 3 ngày. Tỷ lệ tử vong 10% (với liều 18g/kg) đến 25% (với liều 20g/kg) (Hổ Đắc Ấn và cộng sự, tài liệu đã dẫn).

Công dụng và liều dùng

Chỉ mới thấy dùng với mục đích thay cam thảo do sự nhầm lẫn cố ý. Cần có sự nghiên cứu sâu hơn để hoặc cho phép dùng hoặc cấm hẳn.

The post Cây Sóng Rắn – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-song-ran-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Cam Thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-cam-thao-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-cam-thao-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 07:04:38 +0000 https://hmm88i.com/?p=24478 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Cam Thảo trang 880-888 tải bản PDF tại đây. Cam thảo là một vị thuốc rất thông dụng trong đông y và tây y. Tuy nhiên ở nước ta, tên cam thảo dùng để chỉ 3 vị thuốc khác nhau. Cần chú ý […]

The post Cây Cam Thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Cam Thảo trang 880-888 tải bản PDF tại đây.

Cam thảo là một vị thuốc rất thông dụng trong đông y và tây y. Tuy nhiên ở nước ta, tên cam thảo dùng để chỉ 3 vị thuốc khác nhau. Cần chú ý để tránh nhầm lẫn:

  1. Cam thảo bắc.
  2. Cam thảo dây.
  3. Cam thảo nam.
  4. Sau ngày giải phóng miền Nam 1975, người ta còn dùng cây sóng rắn với tên cam thảo.

Cam Thảo Bắc (Clycyrrhiza uralensis Fish)

Còn có tên là bắc cam thảo, cam thảo, sinh cam thảo, quốc lão.

Tên khoa học Clycyrrhiza uralensis Fish và Glycyrrhiza glabra L. (G. glandulifera Waldst et Kit).

Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

Cam thảo (Radix Glycyrrhizae) là rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo nguồn gốc vùng Uran (Glycyrrhiza uralensis Fish.) hay cây cam thảo châu Âu Glycyrrhiza glabra L.

Tên cam thảo vì cam là ngọt, thảo là cỏ; cỏ có vị ngọt.

Glycyrrhiza vì do chữ Hy lạp glykos là ngọt và riza là rễ, rễ có vị ngọt, uralensis vì Hm88i.com Sòng bài trực tuyến ở vùng núi Uran, dãy núi nằm giữa châu Á, châu Âu.

Mô tả cây

Cây cam thảo (Glycyrrhiza uralensis) là một cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m hay 1,5m. Toàn thân cây có lòng rất nhỏ. Lá kép lông chim lẻ, lá chét 9-17, hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên, dài 2-5,5cm, rộng 1,5-3cm. Vào mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt, hình cánh bướm dài 14-22mm (cây trồng ở Việt nam sau 3 năm chưa thấy ra hoa). Quả giáp cong hình lưỡi liềm dài 3-4cm, rộng 6-8cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông, Trong quả có 2-8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1,5-2mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng. Tại Trung Quốc mùa hoa tháng 6- 7, mùa quả tháng 7-9.

Cây cam thảo Glycyrrhiza glabra rất giống loài cam thảo G. Uralensis, nhưng khác ở chỗ lá chét thuôn dài hơn, dài 1,5-4cm, rộng 0,8- 2,3mm, quả giáp thẳng hoặc hơi cong, dài 2- 3cm, rộng 4-4mm, mặt quả gần như bóng hoặc có lông ngắn, số hạt ít hơn loài trên. Mùa hoa tháng 6-8, mùa quả tháng 7-9.

Cam Thảo Bắc
Cam Thảo Bắc

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây cam thảo bắc trước đây không có ở nước ta. Từ năm 1958, chúng tôi đã trồng thử một số bằng những hạt giống của loài Glycyrrhiza uralensis do Liên Xô cũ cung cấp. Cây mọc khỏe vào xuân hạ và thu. Đến mùa đông thì lại đi hoặc kém phát triển. Sang năm sau cây lại mọc tốt. Lượng hoạt chất trong rễ mỗi năm mỗi tăng. Tuy nhiên sau 3 năm cây vẫn chưa ra hoa. Có tài liệu nói cây trồng thường không có hoa

Trồng bằng hạt hoặc bằng thân rễ. Sau 4-5 năm trở lên có thể thu hoạch. Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc thu đông. Nhưng mùa thu đồng cam thảo tốt hơn. Mỗi hecta có thể thu hoạch 8-10 tấn. Vì là một cây lâu năm mới thu hoạch cho nên trong 2-3 năm đầu người ta trồng xen các cây thực phẩm. Khi đào thường người ta chỉ lấy rễ, nhưng nhiều khi lấy cả thân rễ Thân rễ rất dài, có khi tới 7-8m.

Sau khi đào rễ, người ta xếp thành đống để cho hơi lên men, làm cho rễ có màu vàng sẵn hơn, là màu người ta chuộng hơn.

Tại Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước khác cây cam thảo mọc hoang và trở thành mộ ‘thứ cỏ khó diệt trừ, chỉ một mẫu thân rễ có thể trở thành một bụi cam thảo và cứ như vậy lan ra rộng mãi. Những khu vực cam thảo mọc hoang là những nơi có đất khô, đất có canxi, đất cát đất cát vàng.

Những nơi có đất đen cứng chắc, kiểm tính và ẩm thấp thì chất lượng cam thảo kém hơn nhiều xơ, ít bột, ít ngọt, rễ mọc cong queo.

Thành phần hóa học

Trong cam thảo người ta đã phân tích thấy 3- 8% glucoza, 2,4-6,5% sacaroza, 25-30% tinh bột, 0,3-0,35% tinh dầu, 2-4% asparagin, 11- 30mg% vitamin C, các chất anbuyminoit, gồm, nhựa v.v…

Nhưng hoạt chất chính trong cam thảo là chất glyxyridin (glycyrrhizin) với tỷ lệ 6-14%, có khi tới 23%.

Glyxyridin là muối canxi và kali của axit glyxyrizic. Công thức thô của axit glyxyrizic là C,H,O. Axit glyxyrizic là một saponin tritecpenic, có độ chảy 205°C a =+58,5 hơi D tan trong cồn và nước nóng, không tan trong éte. Thủy phân sẽ cho một phân tử axit glyxyretic còn gọi là glyxyritin và 2 phân tử axit glycuronic.

Chất glycyrrhizin được nhà bác học Đức Dobreyner nghiên cứu và chiết suất từ năm 1819. Nhưng mãi đến năm 1843 người ta mới bắt đầu nghiên cứu cấu tạo hóa học của nó và gần đây mới xác định được chính xác.

Axit glyxyretic không có vị ngọt, nhưng glyxyrizin và nhất là glyxyrizin phối hợp với amoniac hay thổ kiểm lại càng ngọt hơn. Pha loãng 1/20.000 vẫn còn vị ngọt.

Mới đây các nhà nghiên cứu Nhật Bản, còn chiết suất được từ cam thảo một sắc tố màu vàng dẫn xuất flavon gọi là liquiritin C21H22O4.

Nghiên cứu loại cam thảo G. uralensis trong ở vườn Trường đại học dược Hà Nội, chúng tôi thấy sau một năm rễ cam thảo có tỷ lệ 1% glyxyrizin và sau 2 năm tỷ lệ lên 2%. Chúng tôi còn đang tiếp tục theo dõi.

Tác dụng dược lý

Trước đây tây y chỉ coi cam thảo như một vị thuốc phụ có tác dụng hỗ trợ, làm cho Đăng Ký HM88.COM +88k dễ uống, trái lại đông y coi vị cam thảo có khả y năng chữa rất nhiều bệnh và dùng trong hầu hết các Đăng Ký HM88.COM +88k.

Trong nhiều công trình nghiên cứu, vai trò cam thảo rất được chú ý đến, nhiều kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên Hm8803 hiện đang mở đã chứng minh kinh nghiệm cổ truyền của nhân dân.

  1. Tác dụng giải độc của cam thảo:

a) Hậu Đằng Chinh, Trung Đảo Sinh Nam và Đại Một Nhất Hùng (1950) dùng muối natri của axit glyxyrizic thí nghiệm trên tim cô lập của ếch theo phương pháp Clark thấy natri glyxyrizat có tác dụng chống lại với tác dụng của cloral hydrat, physistigmin, axetyl-cholin, pilocacspin và yohimbin.

Đối với histamin và cocain cũng có tác dụng chống lại.

Natri glyxyrizat có tác dụng làm mạnh tim như chất adrenalin.

b) Tam Hảo Anh Phu báo cáo trong Nhật lẫn y học 39 (7): 358, 1952 như sau: Muối kali và canxi của axit glyxyrizic có tác dụng giải độc rất mạnh đối với độc tố của bạch cầu, chất độc của cá lợn, của rắn, hiện tượng choáng.

c)Cửu Bảo Mộc Hiến và Tinh Kỳ Hòa Tủ (Nhật Bản, 1954) đã báo cáo rằng chất glyxirizin có khả năng giải độc do stricnin: Các tác giả đã tiêm stricnin nitrat cho chuột nhất cần nặng 15g cho đến hiện tượng trúng độc, đồng thời đối với một là chuột khác thì tiêm kali nitrat và glyxyrizin, kết quả với liều 0,10mg strichin nitrat, toàn bộ chuột chết trong vòng 10 phút còn là chuột có tiêm cả glyxyrizin với liều 12,5mg thì chỉ có 58% chuột chết, nếu dùng nửa số liều gây chết (D. L. 50) của stricnin nitrat là 0,02mg/10g thì tỷ lệ tử vong của chuột là 58,3% trong khi đó là có tiêm stricnin nitrat đồng thời tiêm cả glyxyrizin thì không một con chuột nào bị chết cả.

Các tác giả còn cho biết khả năng giải độc của cam thảo có liên quan tới sự thủy phân glyxyrizin ra axit glycuronic.

d) Năm 1953, Otto Gessner còn cho biết cam thảo có khả năng giải chất độc của độc tố uốn ván.

e)Năm 1956, Từ Tá Hạ, Diệm Ứng Cử và Bì Tây Bình đã báo cáo trong Trung Hoa y học tạp chỉ (8: 755-766) rằng: Cam thảo có tác dụng giải độc đối với độc tố uốn ván.

g) Cũng trong năm 1956, Diệm Ứng Cử và Trương Tín Chi đã thí nghiệm cho thỏ và chuột nhắt uống dung dịch cam thảo 25-50% cùng với mocphin clohydrat, cocain clohydrat, stricnin nitrat, atropin sunfat, chloralhydrat, để xem khả năng giải độc thì thấy uống 4ml dung dịch cam thảo 25%/1 kg thể trọng có thể giải độc của cocain clohydrat (5mg/kg tiêm dưới da) và cloral hydrat (0,2g/kg thịt).

2. Tác dụng như coctison:

a) Theo J. A. Molhuysen (1950) cam thảo có tác dụng gần như coctison tăng sự tích nước và muối NaCl trong cơ thể gây ra thủy thũng đồng thời trị các vết loét trong bộ máy tiêu hóa.

b) Năm 1946, Reaver đã dựa vào đơn một biệt dược chữa đau dạ dày lưu hành tại một tỉnh nhỏ tên là Netherland gồm có cam thảo, quả tiểu hỏi và muối sắt fero, đã chỉ dùng cam thảo điều trị các bệnh loét đường tiêu hóa, kết quả sau vài ngày uống thuốc, các triệu chứng trường diễn của loét đều mất hết và sau 3 tuần lễ, kiểm tra bằng X quang thấy vết loét hoàn toàn bình phục, nhưng 1/5 những người được điều trị bằng cao cam thảo có hiện tượng thủy thũng, lúc đầu xuất hiện ở mặt, sau toàn thân, một vài bệnh nhận thấy hơi nhức đầu, lao động chân tay thì thấy thở khó khăn và bị đau ở phía trên bụng.

c) Năm 1953, Card căn cứ vào một số thí nghiệm trên chuột bạch, lại kết luận rằng tác dụng của cam thảo không giống tác dụng của desoxycocticosteron.

  1. Tác dụng đối với vị toan (nước chua của dạ dày):

Năm 1951, Chu Nhan và Chu Kim Hoàng (Trung Quốc) đã dựa vào kết quả thực tế cam thảo Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đau dạ dày thí nghiệm xem ảnh hưởng đối với vị toan. Kết quả thay khi thụt 50- 60ml dung dịch cam thảo 1% vào dạ dày của chó đã gây mê thì có thể hạn chế sự tăng bài tiết vị toàn do tiêm dưới da 0,5-1mg chất histamin. Nhưng nếu cho chó có dạ dày nhỏ theo phương pháp Pavlov uống liên tục từ 14-24 ngày với liều 0,2-1g/kg thể trọng, sau khi đã tiêm dưới da 0,2-0,4 histamin để gây tăng vị toan thì kết quả không rõ rệt. Tác dụng giảm vị toan do tác dụng trực tiếp chứ không phải do phản xạ.

  1. Tác dụng tiêu giật (spasmolytique) đối với cơ trơn ống tiêu hóa

Năm 1956, H. Berger và H. Holler đã thí nghiệm so sánh tác dụng của nước cam thảo với papaverin clohydrat thì thấy kết quả là 1/450 và 1/3.100.

  1. Tác dụng của nội tiết tố dục tính:

Năm 1950, Christopher H. Costello (J. Amer. Pharmaceut. Ass.) đã báo cáo rằng trong cam thảo có chất tác dụng như nội tiết tố dục tính đối với âm đạo với âm đạo chuột bạch.

6. Tác dụng khác

Một số tác giả khác còn cho rằng cam thảo có tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, chữa táo bón.

Công dụng và liều dùng

Cam thảo là một vị thuốc rất thông dụng trong đông y và tây y. Ngoài ra nó còn được dùng trong kỹ nghệ thuốc lá, nước giải khát và chế thuốc chữa cháy.

Theo tài liệu cổ, cam thảo có vị ngọt, tính bình (sau khi nướng thì tính hơi ôn), vào 12 đường kính. Có tác dụng bổ tỳ vị, nhuận phế, thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị thuốc. Muốn thanh hỏa thì dùng sống, muốn ôn trung thì nướng. Nướng lên chữa tỳ hư mà ỉa lỏng, vị hư mà khát nước, phế hư mà họ. Dùng sống chữa đau họng, ung thư.

Ai cũng biết đường saccaroza, chất ngọt được tiêu thụ nhiều nhất trong khẩu phần dinh dưỡng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nước ngọt nhưng ai cũng biết là ăn nhiều đường dễ mập, dễ hư răng, nguy hiểm đối với người mắc bệnh tiểu đường. Cho nên một hướng tìm tòi là thay vì ăn đường saccaroza, tìm một chất ngọt khác mà cơ thể không thể biến đường được. Trên hướng đó người ta đã dùng đường hóa học. saccarin, ngọt gấp 300-400 lần saccaroza, glycyrrhizin của cam thảo ngọt gấp 50 lần đường, steviosit lấy từ trái cây Stevia rebaudiana ngọt gấp 300 lần, nhưng phần lớn các chất ngọt kể trên đều ít nhiều để lại một hậu vị đắng khó chịu, nhất là một số chất ngọt kể trên lại bị nghỉ ngờ gây ra ung thư. Gần đây nhất, thế giới đang lưu tâm nghiên cứu một chất dầu không máu, có vị ngọt chiết từ lá và hoa một loại cỏ nguồn gốc ở Mehicô, có tên khoa học là Lippia dulcis Trev. thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) gọi theo tiếng địa phương ở Mehicô là Tzonpelic

Xihuiti có nghĩa là cỏ ngọt. Cây này đang được một số cơ quan nghiên cứu ở nước ta (ở cả hai miền) đang nghiên cứu trống thử và chiết suất. Chất ngọt lấy ra được đặt tên là hernandulcin để nhớ đến công ơn của Francisco Hernandez, một y sĩ Tây Ban Nha, người đầu tiên mô tả cây cỏ ngọt này giữa năm 1570-1576. Cấu tạo hóa học của chất này đã được xác định, kiểm tra bằng tổng hợp hóa học, khác với các chất ngọt

được biết từ trước tới nay. Hemandulcin thuộc nhóm sesquitecpen, có tính ổn định và dễ tổng hợp, giá thành không cao lắm. Với cùng một số lượng phân tử như nhau, hernandulcin ngọt hơn đường saccaroza khoảng 1.000 lần. Đây là một chất ngọt tốt, qua nhiều trắc nghiệm sinh học, đã chứng tỏ có vẻ không sinh ra ung thư. Cho vào bao tử chuột với liều 2g/1kg thể trọng, hernandulcin không gây hậu quả gì tai hại. Tuy nhiên hemandulcin vẫn chưa đáp ứng hoàn toàn yêu cầu vì hương vị của hernandulcin không gây thích thú bằng đường saccaroza và hậu vị vẫn hơi đắng. Người ta đang tìm cách tổng hợp các dẫn suất của hernandulcin có thể không còn hậu vị khó chịu mà vị ngọt vẫn có hương vị dễ chịu của đường saccaroza.

Trong y học, ngoài công dụng làm cho thuốc ngọt dễ uống, làm tá dược chế thuốc viên, thuốc họ, thuốc giải độc, hiện nay cam thảo có hai công dụng chủ yếu:

  1. Chữa loét dạ dày và ruột. Ngày uống 3- 4g, chia làm 3 lần uống trong ngày. Uống luôn 7-14 ngày. Sau đó nghỉ vài ngày để tránh hiện tượng phù nề, nặng mặt.
  2. Chữa bệnh Adidon (Addison “s) vì trong cam thảo có axit glyxyretic cấu tạo như coctison,

nên có tác dụng tới sự chuyển hóa các chất điện giải cơ thể giữ lại natri và clorua trong cơ thể giúp sự bài tiết kali và có thể dùng điều trị bệnh Addidon. Năm 1956 ba tác giả Trung Quốc có báo cáo trong Trung Hoa y học tạp chí đã dùng cao lỏng cam thảo với liều 15ml một ngày, có thể tăng tới 45-60ml để điều trị 4 trường hợp bệnh nhân bị bệnh Adidơn thì thấy thể lực tăng cường, natri trong huyết thanh tăng lên, huyết áp tăng lên, dùng phối hợp với coctison thì có thể giảm được lượng coetison.

Cũng trong năm 1956, tại số báo Trung Hoa, y học tạp chí số tháng 7, bốn tác giả khác báo cáo dùng cam thảo điều trị 2 trường hợp bệnh Adidơn với liều 20-30ml mỗi ngày (uống) kết quả rất tốt, nhưng một người phát sinh hiện tượng phù nề nhẹ, vài ngày sau tự nhiên tiêu đi, cùng số báo đó một tác giả khác giới thiệu đã điều trị khỏi một trường hợp Adidơn với liều 20-40ml cao lòng một này. Số tháng 8 cùng báo đó, ba tác giả khác lại giới thiệu chữa khỏi một trường hợp Adidơn với liều 9-18ml cao lỏng cam thảo mỗi ngày, uống luôn trong 35 ngày.

Đơn thuốc có cam thảo

  1. Cát cánh cam thảo: Chữa ho (xem vị cắt cánh).
  2. Đơn thuốc Kavét chữa đau dạ dày: Cao cam thảo 0.03g, bột cam thảo 0,10g, natri bicachonat 0.15g, magie cacbonat 0.20g, bitmutnitrat basic 0,05g, bột đại hoàng 0,02g, tá dược vừa đủ 1 viên. Chữa loét dạ dày với liều 2-4 viên mỗi lần, ngày uống 2-3 lần.
  3. Đơn thuốc chữa loét dạ dày:

Chỉ một vị cam thảo: Cao cam thảo 2 phần, nước cất một phần, hòa tan. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa nhỏ. Không uống lâu quá 3 tuần lê.

  1. Nhân trung hoàng chữa sốt quá hóa điện cuồng, trúng độc: Cam thảo tán nhỏ, cho vào đẩy một ống tre đã cạo hết lớp tinh tre bên ngoài, Bịt kín hai đầu bằng nhựa thông. Đến mùa đông cắm cả ống tre đó vào một hố phân người, cho đến ngày lập xuân lấy ra rửa sạch, bổ ống trê lấy cam thảo phơi khô tán nhỏ.

Phải chăng đây là một cách người xưa chế cam thảo dưới dạng muối amoniac.

Đông y coi vị này rất quý để chữa cảm sốt quá hóa điên cuống, trúng độc, bị mụn nhọt, Mỗi lần uống 1-2g.

  1. Cao cam thảo mền: Chữa các chứng mụn nhọt, ngộ độc. Ngày uống 1-2 thìa con.
  2. Cao cam thảo đã loại glyxyridin: Gần đây có người đã cho rằng glyxyridin không phải là hoạt chất nên đã chế cam thảo đã loại bỏ glyxyrindin di.

Cam Thảo Dây ( Abrus precatorius L.)

Còn gọi là tương tư tử, tương tự đậu, tương tư đằng, dây cườm, dây chi chì, ang krang, angkreng (Campuchia).

Tên khoa học Abrus precatorius L. (Abrus minor et pauciflorus., Glycine abrus L.).

Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

Dây cam thảo cho những bộ phận dùng làm thuốc sau đây:

  1. Rễ và lá dùng thay cam thảo bắc ở nhiều nước, do đó còn có tên liane réglisse (dây cam thảo), réglisse d’Amérique (cam thảo châu Mỹ), réglisse indienne (cam thảo Ấn Độ).
  2. Hạt là tương tự tử-Semen Abri (Semen Jequiriti).

Mô tả cây

Dây cam thảo là một loại dây leo, cành gầy nhỏ, thân có nhiều xơ. Lá kép hình lòng chim, cả cuống dài 15-24cm, gồm 8-20 đôi lá chết, cuống chung ngắn, cuống lá chết càng ngắn hơn, phiến lá chét hơi hình chữ nhật dài 5-20mm, rộng 3-8mm. Hoa màu hồng mọc thành chùm nhỏ ở kẽ lá hay đầu cành. Cánh hoa hình cánh bướm. Quả thon dài 5cm, rộng 12-15mm, dày 7-8mm, mặt có lông ngắn, hạt từ 3 đến 7, hình trứng, vỏ rất cứng, bóng, màu đỏ với một điểm đen lớn quanh tế.

Cam Thảo Dây
Cam Thảo Dây

Phân bố, thu hái và chế biến

Dây cam thảo mọc hoang và được trồng ở khắp nơi. Tại Hà Nội người ta bán thành từng bó dây và lá cam thảo. Rễ của dây cam thảo ít thấy ở thị trường. Hạt ít thấy bán hơn.

Thành phần hóa học

Rễ và lá dày cam thảo chứa một chất ngọt tương tự như glyxyrizin có trong rễ cam thảo bắc. Tuy nhiên lượng chất ngọt này rất ít lại có vị khó chịu và đắng. Tỷ lệ chất này chỉ có 1-2% (Do Tat Loi, 1960).

Hạt chứa một chất protit độc gọi là abrin C12H14N2O2, chất abralin H13H14O7, là một 2 glucozit có tinh thể, men tiêu hóa chất béo lipaza 2,5% chất béo, chất henagglutinin làm vón máu, và nhiều men ureaza.

Vỏ ngoài hạt có sắc tố màu đỏ. Có tài liệu nói có axit abrussic.

Tác dụng dược lý

Chất abrin là một protit độc, thuộc nhóm phytotoxin, nhưng so sánh với chất rixin (protit lấy ở hạt thầu dầu) thì kém độc hơn. Tuy nhiên tác dụng cũng gần giống nhau: Abrin có tính chất một kháng nguyên (antigene) vào cơ thể có thể gay trong cơ thể một chất kháng thể (anticorps). Tác dụng focmon lên abrin, ta có một chất ana- toxin, chất anatoxin cũng gây trong cơ thể chất kháng thể.

Chất abrin chịu tác dụng của men pepsin của dạ dày khỏe hơn chất rixin. Abrin gây vón hồng cầu một cách dễ dàng.

Khi nhỏ vài giọt dung dịch abrin vào kết mạc mắt, sẽ gây phù tấy kết mạc và gây hại tới giác mạc một cách vĩnh viễn, do đó khi dùng điều trị đau mắt bằng hạt này như kinh nghiệm trong nhân dân cần hết sức thận trọng.

Ta có thể chiết chất abrin như sau: Sắc hạt hoặc pha nước sôi với hạt, lọc lấy nước rồi cho vào cồn để kết tủa. Sấy khô.

Độ độc của hạt dây cam thảo được một số dân tộc vùng Tây Ấn Độ dùng đầu độc: Ngâm hạt với nước, giã nát, thêm ít dầu vào, nặn thành những mũi nhọn, khi những mũi nhọn này đâm vào da, gây loét tại chỗ, ngấm vào máu và gây chết trong 48 giờ.

Tuy nhiên theo một số tác giả, thì hạt cây không độc vì tại Ai Cập, có người dùng hạt này

để ăn, hoặc trẻ con tại một số bến tàu ở châu Âu hay chơi hạt này, nhiều khi nhờ ăn phải mà không chết. Nhưng cần chú ý là trẻ con nuốt phải hạt nguyên không nhai vỡ nát, hoặc ăn thì phải nấu chín mà chất độc abrin thì có thể bị nhiệt làm giảm độc.

Công dụng và liều dùng

  1. Rễ, thân và lá được nhân dân nhiều nước châu Mỹ, châu Âu, châu Á dùng thay vị cam thảo bắc trong các Đăng Ký HM88.COM +88k.

Tuy nhiên do hoạt chất không giống nhau hẳn, cho nên việc thay thế chưa hoàn toàn hợp lý. Nên chú ý trong cây cam thảo bắc để dùng.

Tại Xênêgan, những người ca hát thường nhai lá cây này cho ngọt giọng,

Tại đông châu Phi, một số dân tộc dùng lá chữa rắn độc cắn.

  1. Hạt thường dùng ngoài làm thuốc sát trùng: Giã hạt cho nhỏ, đắp lên chỗ đau. Tuy nhiên có độc cần chú ý.

Trước đây người ta hay dùng hạt này Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đau mắt hột, đau mắt thường: 3 đến 5 hạt, giã nát ngâm với 1 lít nước. Ngày nhỏ vào mắt 3 lần thuốc này. Khi mới dùng thuốc gây phản ứng, nhưng sau 48 giờ phản ứng bớt. Sau 1 tuần giác mạc trở lại bình thường. Thuốc để lâu không có tác dụng cho nên dùng đến đâu chế đến đó.

Tuy nhiên thuốc có độc, gây phù tay kết mạc, do đó về sau người ta không dùng nữa.

Chú ý:

Đừng nhầm hạt dây cam thảo kể trên với hạt cây kiến kiện hay trách quạch (Adenanthera pavonina L.) thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae).

Cây này là một cây to, cao chừng 20m, Là 2 lần kép lông chim, cuống chung to khỏe, dài 40cm hay hơn. Lá chét 6 đội và một lá chét tận cùng, kích thước không giống nhau tùy theo mọc ở cao hay ở thấp. Cụm hoa mọc thành bóng dài 15mm. Quả hình liềm dài 15-20cm, rộng 15mm khi mở ra, thì vận vào nhau như lò xo. Hạt nhìn thấu kính, 2 mặt phình lên, mầu đỏ bóng. Mùa hoa: tháng 2-3, mùa quả tháng 6-7.

Chú ý hạt cây này màu đỏ tuyển, còn hạt dây cam thảo nửa đỏ, nửa đen, ở giữa nửa đen có tễ của hạt.

Trong hạt cây này có khoảng 25% dầu, 30% chất protit.

Tại Việt Nam chúng tôi chưa thấy ai dùng hạt cây này làm thuốc. Trẻ con thường dùng chơi như chơi hạt dây cam thảo.

Tại các nước khác người ta dùng hạt làm thuốc, ở Giava, giã hạc đắp lên mụn nhọt để cho chóng vỡ mủ, chữa nhức đầu tư thấp. Tại Ấn Độ và Malaixia lá sắc uống chữa tê thấp, gỗ làm thuốc bổ. Tại Campuchia vỏ cây dùng chữa lỵ, với tên vỏ cây chan trey, mon trey.

Cam Thảo Nam (Seoparia dulcis L.)

Còn có tên là dã cam thảo (Trung Quốc), thổ cam thảo (Trung Quốc), giả cam thảo.

Tên khoa học Seoparia dulcis L.

Thuộc họ Hoa mõm chó Scrophulariaceae.

Cam thảo nam (Herba Sceopariae) là toàn cây tươi hoặc phơi khô sấy khô của cây cam thảo nam.

Mô tả cây

Cam thảo nam là một loại cỏ mọc thẳng đứng, cao 30-80cm, thân nhẵn, rễ to hình trụ. Lá đơn, mọc đối hoặc vòng 3 lá một. Phiến lá hình mác hay hình trứng ngược, dài 1,5-3cm, rộng 8- 12mm, phía cuống hẹp lại thành cuống ngắn, mép lá nửa phía trên có răng cưa to, phía dưới nguyên. Mùa hạ ra hoa nhỏ màu trắng ở kẽ lá, mọc riêng lẻ hoặc thành đội. Quả nhỏ hình cầu, trong chứa nhiều hạt nhỏ.

Cam Thảo Nam
Cam Thảo Nam

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Có mọc cả ở miền Nam Trung Quốc, đặc biệt vùng Quảng Tây, nhân dân cũng dùng cây này với tên dã cam thảo. Tại Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, châu Mỹ đều có. Có thể thu hái quan trai có v khi dùng tươi, nhưng phần nhiều dùng khổ: Đào toàn cây cả rễ, rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô là được.

Thành phần hóa học

Theo Heyne, trong cây cam thảo nam có một tí ancaloit và một chất đẳng.

Có tác giả cho biết rằng, trong cây có nhiều axit xilixic.

Mới đây theo các tài liệu Ấn Độ, trong cây này có một hoạt chất gọi là amelin dùng uống được để chữa các triệu chứng axit (acidose) của bệnh đái đường.

Tuy nhiên năm 1918, Whittaker H. trong Brit Med. J. theo dõi áp dụng chất amelin trong 2 trường hợp thì cho rằng amelin không công hiệu đối với bệnh đái đường.

Tuy lá cây có vị ngọt, nhưng không có hoạt chất của cam thảo bắc.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân nhiều vùng ở Việt Nam cũng như nhân dân vùng Quảng Tây, Trung Quốc dùng thay vị cam thảo bắc để chữa sốt, chữa say sắn độc, giải độc cơ thể.

Liều dùng tùy tiện thường 30-100g sắc uống riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Tại Malaixia, nhân dân dùng làm thuốc chữa ho.

Tại đảo Angti, rễ cam thảo nam được dùng làm thuốc thu sáp, thuốc nhảy để Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ lậu, kinh nguyệt quá nhiều.

Tại Braxin, lấy nước ép cam thảo nam thụt Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ đi ỉa lỏng và pha uống chữa họ.

Tại Ấn Độ, cam thảo nam được dùng chữa triệu chứng axit (acidose) trong bệnh đái đường nhưng có tác giả đã không xác nhận sự công hiệu của thuốc này.

Cần chú ý nghiên cứu thêm.

The post Cây Cam Thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-cam-thao-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Bạng Hoa – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-bang-hoa-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-bang-hoa-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 06:49:59 +0000 https://hmm88i.com/?p=24474 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Bạng Hoa trang 874 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là cây sò huyết, tử vạn niên thanh, lẻ bạn. Tên khoa học Rhoeo discolor (L’Hérit) Hance (Tradescantia discolor L’Herit). Thuộc họ Thài lài Commelinaceae. Mô tả cây Cây sò huyết là […]

The post Cây Bạng Hoa – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Bạng Hoa trang 874 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là cây sò huyết, tử vạn niên thanh, lẻ bạn.

Tên khoa học Rhoeo discolor (L’Hérit) Hance (Tradescantia discolor L’Herit).

Thuộc họ Thài lài Commelinaceae.

Mô tả cây

Cây sò huyết là một loại cỏ sống dai, cao tới 50cm, thân thô ngắn, hoặc không có thân lá mọc như ngói lợp, phiến lá dài 20-30cm, rộng 4-6cm, mép nguyên đầu nhọn, trông hơi mọng nước, mặt dưới màu tím sẫm. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, có tổng bao màu tím nhạt trông giống hình con sò, do đó có tên cây sò huyết, tên Trung Quốc: bang cũng là sò. Mặt trong bao hoa màu xanh nhạt. Cụm hoa gồm nhiều hoa màu trắng. Cuống cụm hoa mọng nước. Mùa hoa kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu.

Bạng Hoa
Bạng Hoa

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây này mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trong nước ta để làm cảnh vì cây tím đẹp. cụm hoa hình đặc biệt, màu dịu dàng đẹp mắt. Ngoài ra, suốt mùa hoa, người ta hái hoa phơi khô để làm thuốc. Nhưng nhiều người cho dùng tươi mới tốt.

Thành phần hóa học và tác dụng được lý 

Chưa có tài liệu nghiên cứu.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân Việt Nam và nhân dân vùng Quảng Tây coi hoa cây sò huyết này là một vị thuốc bổ, có tác dụng chữa các chứng ho ra máu, đi ngoài ra máu, các chứng chảy máu.

Ngày dùng 40-80g hoa tươi sắc uống hoặc giã vắt lấy nước mà uống.

Vị thuốc phổ thông, cần chú ý nghiên cứu.

The post Cây Bạng Hoa – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-bang-hoa-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0
Cây Hồ Đào (Óc Chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi https://hmm88i.com/cay-ho-dao-oc-cho-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/ https://hmm88i.com/cay-ho-dao-oc-cho-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/#respond Mon, 13 Nov 2023 03:40:53 +0000 https://hmm88i.com/?p=24470 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi Hồ Đào trang 911-914 tải bản PDF tại đây. Còn gọi là hạnh đào, hoàng đào, óc chó, cát tuế tử, phan la tư. Tên khoa học Juglans regia L. Thuộc họ Hồ đào Juglandaceae. Cây hồ đào cho ta những vị thuốc […]

The post Cây Hồ Đào (Óc Chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Hồ Đào trang 911-914 tải bản PDF tại đây.

Còn gọi là hạnh đào, hoàng đào, óc chó, cát tuế tử, phan la tư.

Tên khoa học Juglans regia L.

Thuộc họ Hồ đào Juglandaceae.

Cây hồ đào cho ta những vị thuốc sau đây:

1. Hồ đào nhân (Semen Juglandis) là nhân phơi hay sấy khô của quả hồ đào chín.

2. Lá hồ đào hay hồ đào diệp (Folium Juglandis) là lá cây hồ đào phơi khô.

3. Thanh long y (Pericarpium Juglandis) còn có tên hồ đào xác là vỏ quả hồ đào (phần thịt) phơi hay sấy khô.

4. Phân tâm mộc (Diaphragma Juglandis Fructus) là màng ngăn cách trong nhân của hạt hồ đào phơi hay sấy khô.

Tên hồ đào vì cây vốn gốc ở dân tộc Khương Hồ (tên cổ của Ấn Độ một nước vùng Tây Nam châu Á). Chương Khiên nhà Hán Trung Quốc đi sứ sang Tây Vực đem về trồng gọi là hồ đào; đào vốn ở xứ của vùng dân tộc Hồ (Ấn Độ).

Mô tả cây

Cây óc chó hay hồ đào là một cây to, cao tới 20m, sống lâu năm. Lá kép lông chim, không có lá kèm, thường 7-9 lá chét, mép nguyên không cuống hình trứng thuôn, khi vò có một mùi hãng đặc biệt. Hoa đơn tính, cùng gốc, kèm theo lá bắc sớm rụng. Hoa đực mọc tụ thành hình đuôi sóc rủ xuống, mỗi hoa ở một kẽ lá bắc, kèm theo có 2 lá bắc con. Nhị 30-40, có chỉ nhị ngắn, đỉnh có bao phấn 2 ngăn, quay vào trong. Hoa cái mọc đơn độc, thưa, bao hoa gồm 4-6 vẩy, bầu hạ, vòi nhụy ngắn. Bầu 1 ngăn, có 1 tiểu noãn mọc thẳng. Có 4 vách giả chia bầu thành 4 ngăn giả. Quả hạch, có vỏ mẫm, đường kính chừng 3-4cm. Nhân nguyên ở phía trên, chia thành 4 thùy ở phía dưới, nhiều rãnh nhãn nheo, trông như óc, do đó có tên quả óc chó.

Mùa hoa: mùa hạ, quả chín vào các tháng 9-10.

Cây Hồ Đào
Cây Hồ Đào

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hồ đào hình như là một loài mới được đi thực vào nước ta, thường chỉ thấy trồng ở một số tỉnh biên giới như Lào Cai, Hà Giang. Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Tuy nhiên số cây chưa nhiều, chỉ mới thấy chừng 1-2 nghìn cây.

Mọc hoang ở những nước vùng đông nam châu Âu tới tận Nhật Bản. Hiện được trồng ở những nước ôn đới châu Âu, tại Trung Quốc (nhiều nhất tại các tỉnh miền Bắc). Cây hồ đào sống lâu năm, thường từ 15 năm trở lên, cây hồ đào mới cho hiệu suất cao nhất.

Muốn hái lá, thường hái suốt mùa hạ, tốt nhất vào các tháng 6-7. Chọn những lá xanh, tốt, thường chỉ hái lá chét, hoặc hái toàn là sau đó  lọc lấy lá chét, phơi thành lớp mỏng cho đến khô để khỏi phải đảo luôn. Không dùng những lá rụng, hoặc lá hái vào mùa thu. Thường người ta hay dùng lá tươi làm thuốc vì hoạt chất còn nguyên vẹn, giã ép lấy nước. Lá phơi khô bảo quản cẩn thận có màu lục, mùi thơm, vị đắng, chát.

Nếu dùng nhân thì đợi các tháng 9-10 khi quả chín hái về, bóc lấy vỏ ngoài, phơi khô, gọi là thanh long y.

Hạch gồm nhân và vỏ cứng phơi khô gọi là hồ đào. Lấy quả hạch, đập lấy nhân phơi khô gọi là hồ đào nhân và phần vách gọi là phân tâm mộc.

Thành phần hóa học

Hồ đào nhân chứa chừng 40-50% chất béo. Muốn ép dầu hồ đào, cần phơi hạt cho khô và chờ ít nhất 3-4 tháng, vì nếu ép tươi đầu sẽ đục, khó lọc trong.

Thành phần của dầu gồm 7%axit béo đặc (axit myristic và axít lauric), các axit béo lỏng gồm có 80% axit linolic, 13% axit linolenic và isolinolenic, 7% axit oleic. Nhưng một số tác giả khác lại cho rằng trong dầu hồ đào có 78- 83% axit linolic, 14-15% axit oleic, và 4% lino- lenic. Dầu hồ đào có tỷ trọng 0,924-0,925 ở nhiệt độ 15-18°C thì đặc lại.

Ngoài chất béo ra, trong nhân dân hổ đào còn có 15,5% protein, 10,4% hydrat cacbon, 1,5% tro (magiê, mangan, canxi photphát, sắt, vitamin A, B2, C và E).

Thanh long y được bán trên thị trường châu u với tên brou de noix. Trong thanh long y có axit xitric, axit malic, juglin, hydrojuglon, axit ellagic, emunsin, peroxydaza và tro.

Lá hồ đào chứa một ít tinh dầu, chừng 5% chất đường inozitol, một tanin pyrogalic, axit galic và axit elagic. Trong lá hồ đào còn có chất juglon và hydrojuglon, một chất hắc và đáng là juglandin, một tinh dầu, chất nhựa và pectin.

Juglon và hydroxy-5 naphtoquinon-1,4 hydrojuglon là chất do khử oxy của juglon mà có. Hydrojuglon ở dưới 2 dạng tôtôme. G- hydrojuglon (triphenolic) và B-hydrojuglon (dixetonic và monophenolic). Tỷ lệ jugion giảm ở các lá già. Do đó cần hái trước khi lá già, Juglon cho với đồng axetat những tinh thể hình kim dài màu đỏ nâu.

Khi đun nóng các vi phẫu lá hổ đào, chất juglon thăng hoa cho tinh thể màu vàng tươi dài 300k. Nước brôm cũng cho những tinh thể cùng kích thước.

Chất juglon gần như không tan trong nước, 2 chất hydro juglon cũng chỉ tan một phần trong nước, chỉ riêng chất B-hydroxy juglon tan trong clorofoc, còn chất a-hydroxyjugion chỉ chủ yếu tan trong cồn.

Chất a-hydroxyjuglon ra khí trời sẽ oxy hóa để cho juglon. Trong cùng một điều kiện, chất B-hydrojuglon không bị oxy hóa. Muốn cho hydrojuglon có thể chuyển thành juglon, cần đồng phân hóa nó thành dạng a bằng cách đun sồi trong cồn clohydric.

Người ta có thể chế được juglon dưới dạng tinh thể màu da cam. Nó tan trong dung dịch kiềm để cho một dung dịch màu tím.

Công dụng và liều dùng

Hồ đào được dùng trong cả đồng y và tây y.

Tây y cho rằng tác dụng của hồ đào là do chất tanin, chất juglon có tính chất sát trùng là do có chất phenol, chất juglon còn có tác dụng hóa sừng các tổ chức, được dùng chữa những bệnh ngoài da.

Theo tài liệu cổ, hồ đào nhân có vị ngọt, tính ổn, không độc, vào 2 kinh phế, thận có tác dụng bổ gan, thận, bền lưng, gối, cổ thận, sáp tinh, liễm phế, chữa ho, trừ đờm, làm thuốc bổ, tu dưỡng, ăn vào béo người, nhuận da, đen tóc, lợi tiểu tiện, chứa 5 chứng trĩ. Nhưng có tác giả thời cổ (Hoàng Cung Tú, đời nhà Thanh Trung Quốc) cho rằng ăn nhiều nhân hồ đào thì có thể rụng lông mi, lông mày, người nào phế có nhiệt
đờm và hỏa ở mệnh môn thì chớ dùng. Phàm không phải chúng hư hàn cấm dùng.

Tây y dùng lá hồ đào làm thuốc làm se da, sát trùng, bổ và lọc máu. Người ta pha thành thuốc pha như pha trà: 20g trong 1 lít nước để uống trong hay sắc 50% để súc miệng, thụt âm đạo, chữa khí hư. Nếu không có lá có thể dùng vỏ quả (thanh long y). Có tác giả (Reynaud, 1932) đã cho rằng thuốc pha lá hỗ đào có tác dụng hạ glucoza huyết. Bò ăn lá hồ đào sẽ mất sữa.

Chất juglon được dùng Link truy cập HM88 không chặn, tặng tân thủ ngoài da như chốc lỗ, bệnh vẩy nến, eczema, ngứa. Dùng dưới hình thức pha 0,50g juglon trong 100m1 clorofoc trộn với vazơlin.

Hạt hồ đào thường dùng ép dầu ăn, khô dầu dùng cho trâu bò hay lợn ăn, nhưng nếu khô dầu để lâu thường bị khét, thịt bò lợn ăn phải sẽ có mùi khó chịu do đó khô dầu để lâu chỉ dùng để bón ruộng thôi.

Gỗ cây hồ đào hay được người chay u dùng làm báng súng và trong nghề mộc vì gỗ chắc, thớ mịn.

Đông y coi hồ đào bỏ khí, nuôi huyết, nhuận táo, hóa đờm, ôn phế, nhuận tràng, lợi tam tiểu, ích mệnh môn, chữa hư hàn, họ suyễn (Lý Thời ‘; Trân). Thường chỉ hay dùng nhân với liều dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên.

Đơn thuốc trong nhân dân có vị hồ đào

Thanh nga hoàn, làm thuốc bổ, chữa đau lưng, mỏi gối (Hòa hán cục phương):

Hồ đào nhân 30g nhân, bổ cốt chi 100g, đỗ trọng 100g. Tất cả giã nhỏ chế thành viên, mỗingày uống 3 lần, mỗi lần 5g.

Đơn thuốc chữa người già yếu, họ, thở, ngủ không được:

Hồ đào bỏ vỏ, hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, sinh khương mỗi vị 40g, giã nát, dùng mặt viên to bằng hạt ngô. Buổi tối trước khi ngủ ngậm 1- 2 viên, dùng nước gừng mà ngậm chung.

Chữa trẻ con chốc đầu:

Hồ đào (cả vỏ) thiêu tồn tính để nguội thêm nửa phần kinh phấn, trộn đều, tán nhỏ, hòa với dầu thầu dầu bôi lên chỗ chốc đầu đã rửa sạch bằng nước trầu không hay nước bạch đồng nữa.

Chữa khí hư:

Lá hồ đào tươi, sao vàng, sắc với nước, mỗi lít nước cho 50g lá tươi. Dùng thụt vào âm hộ.

The post Cây Hồ Đào (Óc Chó) – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi appeared first on Trang Chủ Hm88.com Nhà Cái Uy Tín Tặng +88K.

]]>
https://hmm88i.com/cay-ho-dao-oc-cho-nhung-cay-thuoc-va-vi-thuoc-viet-nam-do-tat-loi/feed/ 0